Hello & Welcome to our community. Is this your first visit? Đăng Ký
Follow us on
Follow us on Facebook Follow us on Twitter Linked In Flickr Watch us on YouTube My Space Blogger
Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Quản Trị Sơn_cu's Avatar
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    133
    Thanks
    159
    Thanked 380 Times in 99 Posts

    Các danh lam thắng cảnh của Hà Nội

    HÀ NỘI với chiều dài nghìn năm lịch sử văn hiến chứa đựng trong đó biết bao nhiêu huyền thoại. Trong đó có biết bao danh lam thắng cảnh thể hiện một nét văn hóa của HÀ NỘI thủ đô thân yêu của dân tộc. Xin mời mọi người cùng tham quan thủ đô yêu dấu của chúng ta
    ĐÌNH, ĐỀN, CHÙA 1. CHÙA MỘT CỘT
    Địa chỉ: Phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình, Hà Nội
    Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý, nay thuộc phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình - Hà Nội.
    Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chùa được xây dựng vào mùa đông tháng 10 âm lịch nǎm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1409) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy vua nói với bề tôi và nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy ở trong mộng. Khi chùa khánh thành, các sư chay đàn, tụng kinh cầu nhà vua sống lâu. Hàng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch, nhà vua lại đến chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội.
    Chùa xây chỉ có một gian gọi là Liên Hoa Đài (đài hoa sen), ta quen gọi là chùa Một Cột, có hình vuông mỗi chiều 3m, mái cong dựng trên cột đá hình trụ cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính 1,2m. Trụ đá gồm 2 khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá.
    Ở đây có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy thi vị qua hình tượng hoa sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiến trúc gỗ bằng hệ thống móng giằng, đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ như đường lượn của cánh sen, thiết lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo.

    Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840 - 1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được sửa chữa lại năm 1955 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng đảm nhiệm.
    Chùa Một cột đã được Bộ Vǎn hoá - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28/4/1962.
    2. CHÙA TRẤN QUỐC
    Địa chỉ: Đường Thanh Niên, Ba Đình, Hà Nội
    Soi mình bên bóng nước hồ Tây đã 15 thế kỷ, chùa Trấn Quốc là ngôi chùa cổ nhất, với bao huyền thoại từ tên gọi Khai Quốc, nay trở thành một di sản văn hóa trong lòng Hà Nội. Chùa Trấn Quốc thuộc địa phận làng Yên Hoa bên bờ sông Hồng (nay nằm trên đường Thanh Niên thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hồ).
    Vào thời vua Lý Nam Đế (544 - 548), chùa có tên là Khai Quốc. Đến niên hiệu Đại Bảo, đời vua Lê Thái Tông, chùa được đổi tên thành An Quốc. Đến đời Lê Trung Hưng năm 1615, do bãi sông bị lở gần vào đến chùa, nhân dân phường Yên Hoa (sau này là Yên Phụ) mới dời chùa vào đảo Cá Vàng ở Hồ Tây, là địa điểm hiện nay của chùa. Chùa được dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời nhà Lý) và điện Hàn Nguyên (thời nhà Trần). Sau đó, người ta cho đắp đê Cổ Ngư và tạo đường nối từ đê với đảo Cá Vàng. Chùa được trùng tu với quy mô lớn nhất là vào đời vua Lê Thần Tông năm 1639. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này.
    Đến niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705) đời vua Lê Hy Tông, chùa đổi tên là Trấn Quốc. Đầu đời nhà Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa.
    Đến năm 1842, vua Thiệu Trị tuần du ra Bắc, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, đổi tên chùa là Trấn Bắc, nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.
    Chùa có lối kiến trúc độc đáo gồm nhiều lớp, nhiều tượng Phật được xếp từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ.... Chùa có 3 nếp nhà chính là tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công (). Hai bên nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang. Sau thượng điện là gác chuông. Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia. Trong chùa hiện nay còn lưu giữ 14 tấm bia. Tấm bia năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích nhắc đến việc xây dựng chùa sau một thời gian dài đổ nát. Công việc này bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815. Đặc biệt chùa còn có vườn tháp lớn với rất nhiều tháp. Ở khuôn viên chùa có cây bồ đề xum xuê cành lá, đó là quà tặng của Tổng thống Ấn Độ khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959.
    Chùa Trấn Quốc đã sống một cuộc đời riêng, hòa chung trong lịch sử của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến mà mỗi viên ngói trên mái chùa rêu phong đều mang trong mình một câu chuyện, gợi lên hoài niệm về những kí ức của Hà Nội.
    3. CHÙA QUÁN SỨ
    Địa chỉ: Số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Ðạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
    Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ XV nằm trên địa phận thôn An Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương; ngày nay là phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở. Năm 1942 chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt.

    Tam quan chùa kiểu ba tầng mái, chính giữa là lầu chuông. Đi qua một sân gạch nhỏ, bước lên 11 bậc thềm là tới chính điện, hình vuông, có hành lang bao quanh, điện Phật được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy, phía trong cùng thờ ba vị Tam thế Phật trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa thờ Phật Thích-ca, hai bên là A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc thấp nhất, ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng giữa tượng Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và tượng Châu Sương, Quan Bình.
    Các nhà chính và nhà phụ chùa Quán Sứ đều rộng rãi. Nơi đây từng là trụ sở báo Đuốc Tuệ. Hiện nay chùa có giảng đường, thư viện, là nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình (ở Việt Nam).
    4. CHÙA ĐẬU
    Địa chỉ: Thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, Thường Tín, Hà Nội
    Theo tích xưa, vì chùa thờ nữ thần Pháp Vũ (bà Đậu) nên được nhân dân gọi là chùa Đậu, chùa còn có nhiều tên gọi khác là: Thành Đạo Tự, Pháp Vũ Tự, Chùa Vua, Chùa Bà.. Theo văn bia để lại chùa được xây dựng từ thời triều nhà Lý, thế kỷ thứ XI. Chùa được xây theo kiểu "nội công ngoại quốc". Tam quan chùa là một gác chuông đẹp, hai tầng tám mái với các đầu đao cong vút. Nhiều bộ phận gỗ được chạm khắc hình rồng, phượng và hoa lá.
    Đặc biệt là trong chùa còn có hai pho tượng của hai nhà sư Vũ Khắc Minh Vũ Khắc Trường đã tu ở chùa vào khoảng XVII, được tạo thành bằng cách bó sơn ta rồi quang dầu ra ngoài chính thi hài các nhà sư. Đầu năm 1993, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã được giao nhiệm vụ lập phương án thiết kế và thi công trùng tu hai pho tượng này. Khi chiếu tia X-quang, các nhà nghiên cứu còn thấy rõ xương cốt bên trong thi hài và kết luận rằng: Không có vết đục đẽo, không có hiện tượng hút ruột, hút óc và các khớp xương dính chặt với nhau như thể tự nhiên. Đây là hai vị Thiền sư đắc đạo tại chùa, để lại toàn thân xá lợi. Xá lợi đốt không cháy, ngâm trong nước không tan.
    Tượng nhục thân nhà sư Vũ Khắc Minh nặng 7 kg, chiều cao ngồi 57cm. Qua vết nứt rộng 2mm ở đầu và mặt thấy trong cùng là xương sọ, tiếp đến khoảng không rồi tới lớp bồi dày 2 - 4mm. Chất liệu bồi là đất gò mối tơi mịn trộn sơn sống, mùn cưa, giấy bản. Phủ ngoài chất bồi này là một lớp sơn ta mầu cánh dán dày 0,1mm. Hiện nay, đôi chỗ trên tượng hiện ra những lá bạc mỏng phủ ngoài lớp sơn ta, còn ngoài cùng là một lượt quang dầu.
    Chùa Đậu vốn đã huyền bí và mang trong mình những giá trị tâm linh lớn lao từ hai vị thiền sư đắc đạo, nay càng trở nên hấp dẫn hơn bởi kỳ tích khôi phục tượng táng của các nhà khoa học Việt Nam.
    5. CHÙA HƯƠNG
    Địa chỉ: xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
    Chùa Hương hay Hương Sơn là một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, là một quần thể những danh lam thắng cảnh và di tích nằm trên một dải núi chạy từ núi Hoàng Con trong dãy Hoàng Liên Sơn, vượt qua sông Đà, núi Ba Vì, qua Chương Mỹ xuống mãi Nho Quan - Ninh Bình. Trong cụm danh thắng Hương Sơn, bên cạnh các cảnh đẹp thiên tạo như suối Yến, động Hương Tích, động Tiên Sơn, động Tuyết Quynh, suối Giải Oan... còn rất nhiều các công trình kiến trúc nghệ thuật do bàn tay con người, qua các thời kỳ tạo nên, và đã trở thành những di tích lịch sử rất có giá trị như đền Trình, chùa Thiên Trù, đền Cửa Võng, Hương Sơn Tự...
    Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn 2000 năm và đã được đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Độ), nơi đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã.
    Đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã có am thờ Phật dựng trên mảnh đất chùa Thiên Trù. Theo sách "Hương Sơn Thiên Trù thiên phú" thì chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Huy Tông, niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705). Bia tại chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo Kim Dung bảo điện của chùa được thực hiện vào năm 1686.
    Các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Cho đến đầu thế kỷ XX, trong khu vực này đã có hơn 100 ngôi chùa.
    Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc, không những trong chùa Hương mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn. Pho tượng bằng đá, có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội mũ Tì Lư (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tượng ngồi ở tư thế đặc biệt, tay phải cầm viên ngọc minh châu, chân trái duỗi, đặt trên một bông sen nở, chân phải co, dưới chân cũng có một bông sen. Theo bài ký khắc trên đá năm 1806 thì pho tượng này được tạc năm 1793.
    Trong động Hương Tích còn có quả chuông đồng cao 1,24m, đường kính đáy 0,63m đúc năm Thịnh Đức thứ 3 (1655).
    Chùa Hương là thắng cảnh có doanh thu lớn trong ngành Du lịch. Hội chùa Hương Sơn là hội chùa kéo dài nhất ở Việt Nam trong suốt 3 tháng sau Tết Nguyên đán.
    6. CHÙA THẦY
    Địa chỉ: Chùa Thầy nằm ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội
    Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là chùa Thầy, tương truyền được xây dựng từ thời Lý, nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh.
    Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự, theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng. Trước cửa chùa có đầm Long Chiểu, giữa có thủy đình nơi thường diễn rối nước. Hai chiếc cầu gỗ cổ kiểu “thượng gia hạ kiều” ba nhịp có mái che do Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) xây dựng năm 1602. Bên trái là cầu Nhật Tiên, trông vào đền Tam phủ, làm trên một đảo nhỏ giữa ao. Bên phải là cầu Nguyệt Tiên, đi lên chùa Cao trên núi.
    Cụm kiến trúc chính là chùa Cả gồm ba lớp nhà lớn, dựng trên nền cao bó đá hộc xanh, đối diện với thủy đình. Lớp ngoài là nhà tiền tế, lớp giữa thờ Phật, lớp trong cùng thờ Từ Đạo Hạnh, bộ mái đồ sộ, lớp ngói mũi hài to bản và dày, bốn góc cong vút đặt trên bộ khung gồm 4 cột lớn và mười hai cột nhỏ bằng gỗ quý kê trên tảng đá, liên kết với nhau bằng hệ thống xà hoành. Khớp mộng vững chắc, xung quanh lắp ván bưng đố lụa với nhiều mảng trang trí chạm hình rồng, lân, mây, lửa. Trong chùa có ba pho tượng diễn tả 3 kiếp của Từ Đạo Hạnh. Chính giữa là tượng đã thành Phật, đội mũ hoa sen, tay chắp trước ngực. Bên trái là tượng gỗ bạch đàn, chân có chốt khớp cử động được. Bên phải là tượng sau khi đầu thai vào cung cấm trở thành vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trong chùa còn có tượng cha mẹ thiền sư; lưng ngai chạm trổ tinh xảo; có các biểu tượng nho giáo (phủ việt, đầu rồng), Phật giáo (quả phúc) và Đạo giáo (sừng tê ngọc báu) ghi rõ niên đại (1346). Hai bên chùa là hành lang thờ 18 vị La Hán. Phía sau là gác chuông cổ tương truyền đúc từ thời Lý và lầu trống có trống lớn đường kính 1,5m. Qua cầu Nguyệt Tiên lên núi là chùa Cao. Sau chùa là hang Thánh Hóa. Từ chùa Cao theo lối mòn ven núi lên hang Cắc Cớ sau đó đến Thượng Chỉ, phía sau là hang Bụt Mọc, có nhiều tảng đá lô nhô như tượng Phật. Trên Sài Sơn có hang Gió, chợ Trời (phía trên chùa Cao) ngổn ngang những hòn đá hình bàn ghế, kệ bày hàng... có phiến đá nhẵn gọi là bàn cờ tiên.
    Như vậy, quanh núi Thầy, ngoài chùa Thầy còn có cả một cụm kiến trúc Phật giáo được xây dựng trong những khoảng thời gian khác nhau.
    Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng Ba Âm lịch hàng năm. Trong ngày hội, nhiều tăng ni từ các nơi khác trong vùng cùng về đây dự lễ trong những bộ cà-sa trang trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng trầm đều. Lễ cúng Phật và trai đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện có sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.
    Hội chùa Thầy không chỉ có những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở nhiều nước.
    7. CHÙA TRĂM GIAN
    Địa chỉ: Thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội
    Chùa Trăm Gian là ngôi chùa nằm trên một quả đồi cao khoảng 50 m, được lập từ đời Lý Cao Tông, niên hiệu Trinh Phù thứ 10 (1185). Đến thời nhà Trần, có hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây, tương truyền là người có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối. Ngôi chùa lớn với quy mô như hiện nay đã được trùng tu và xây dựng thêm qua nhiều thời đại.
    Chùa Trăm Gian là một quần thể kiến trúc độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là 1 gian thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính.
    Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá Ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối nước.
    Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một toà gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các ván bằng đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông cao 1,1m, đường kính 0,6m, đúc năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794). Trên chuông có khắc một bài minh của Phạm Huy Ích. Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá hình chữ nhật.
    Lại leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình rồng cuộn khúc thì tới cụm thứ 3 đó là chùa chính, gồm nhà bái đường, toà thiêu hương và thượng điện. Hai bên là 2 dãy hành lang. Trong cùng là nhà tổ, giữa lại có lầu trống bên trong treo một trống lớn, đường kính 1 m và một khánh đồng dài 1,20 m, cao 0,60 m đúc năm 1749. Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Ở giữa thượng điện có một bệ bằng đất nung đỏ hình khối chữ nhật, giống kiểu các bệ đá thời nhà Trần. Trên bệ đá là đài sen, xung quanh trang trí nhiều hình động vật và hoa lá, bốn góc có hình chim thần. Trên bệ đặt các tượng Phật tam thế. Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối... Riêng có hai câu đối khảm trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400 - 1406).
    Hai bên là hai dãy hành lang. Trong cùng là nhà thờ Tổ. Ở giữa còn có gác trống, treo một chiếc trống lớn và một khánh đồng đúc năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749).
    Trong chùa có tượng đô đốc Đặng Tiến Đông, một tướng nhà Tây Sơn, chỉ huy đạo quân đánh vào phía Nam Thăng Long. Tượng này được phát hiện vào năm 1972. Ngoài ra còn có tượng Đức Thánh Bối đặt trong khám gỗ gian bên phải. Đây là tượng cốt rút bằng mây đan ngoài bọc vải sơn, tương truyền là tượng bỏ hài cốt của ông.
    Chùa Trăm Gian là một ngôi chùa theo kiểu tiền phật hậu thần, ngoài việc thờ phật, trong chùa còn đặt khám thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Bình An thể hiện sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân tộc với phát triển của lịch sử.
    8. CHÙA TÂY PHƯƠNG
    Địa chỉ: núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội.
    Chùa Tây Phương ở núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất. Theo các tài liệu để lại thì chùa xây từ đời Cao Biền (865 - 875), vào niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705), Tây Vương Trịnh Tạc đi qua thấy cảnh trí trang nghiêm, bèn truyền cho sửa chữa lại chùa và xây tam quan. Sau đó chùa bị phá. Chùa Tây Phương còn đến nay đã được xây lại trên nền chùa cũ, vào khoảng 1788 - 1789 dưới triều Tây Sơn. Hiện trong chùa còn chuông đồng đúc năm Bính Thìn 1796, năm Cảnh Thịnh thứ 4 và bài Minh do Phan Huy ích soạn khắc vào chuông năm Mậu Ngọ (Cảnh Thịnh thứ 6).
    Chùa Tây Phương xây 3 toà xếp thành hình chữ tam (), nhìn bề ngoài mỗi toà có 2 tầng, 8 mái và 8 đầu đao cong vút. Toà giữa hẹp nhưng cao hơn toà thượng và hạ. Do xếp hình chữ tam, không nối liền mà mỗi toà cách nhau một quãng nhất định, thềm toà nọ cách thềm toà kia là 1,6 m, nên nội thất mỗi toà đều được chiếu sáng. Các toà nhà gạch trần theo hình cong và được chạm trổ theo kiểu “bán âm, bán dương”, hay kiểu “sắc sắc không không” theo triết lý nhà Phật. Phía trong chùa dựng theo lớp chồng giường thống nhất, chồng cột có xà đỡ.
    Nơi đây còn là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Khắp chùa chỗ nào có gỗ là có chạm trổ. Các đầu bẩy, các bức cổn, xà nách, ván long... đều có chạm trổ đề tài trang trí quen thuộc của dân tộc Việt: hình lá dâu, lá đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù... rất tinh xảo.
    Ðặc biệt chùa Tây Phương là nơi hội tụ những tác phẩm xuất sắc của nghệ thuật điêu khắc dân tộc như chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Chùa có tất cả 62 pho tượng lớn nhỏ có giá trị nghệ thuật cao như các pho Tam Thế, A-di-đà, Tuyết Sơn, Di Lặc, Kim Cương, 18 vị La Hán, tượng Phật Bà Quân Âm nghìn mắt nghìn tay (thế kỷ XIX). Chùa còn có quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) và nhiều bộ hương án quý.
    Chùa Tây Phương là một di tích lịch sử có giá trị về mặt nghệ thuật kiến trúc đồng thời là một thắng cảnh đẹp của Hà Nội.
    9. CHÙA TRẦM
    Địa chỉ: xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
    Chùa Trầm được gọi tên theo tên ngọn núi mà chùa dựa vào. Tương truyền ngày xưa ở trên đỉnh núi này có một cây trầm rất to, thân cây nhiều người ôm không xuể, tỏa hương thơm khắp vùng. Sau này, dù cây không còn nữa nhưng người ta vẫn gọi là núi Trầm hay núi Tử Trầm. Xưa kia toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung.
    Chùa Trầm được xây dựng năm Ất Hợi (1515) do Trần Văn Tăng, một tướng quân xuất gia giảng đạo, khởi xướng. Toàn bộ khu núi Trầm này xưa kia cũng là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung và đã cho xây nhiều công trình mà nay vẫn còn dấu tích. Chùa Trầm nhỏ, mang vẻ đẹp cổ kính.
    Quần thể chùa gồm nhiều thắng cảnh đẹp: Đền Mẫu nằm lưng chừng núi, hang Long Tiên có đường dẫn lên đỉnh núi Trầm (tục gọi là đường lên trời), có hang sâu dẫn ngầm vào trong núi (tục gọi là đường xuống âm phủ). Trong hang có tượng của các vị phật, tiên, hộ pháp tạc bằng đá rất sinh động. Nơi đây còn lưu trữ những bài thơ cổ khắc trên vách đá, khánh đá, chuông đồng ... được tạo tác qua các thời đại.
    Hang Trầm còn được biết đến vì gắn với một sự kiện lịch sử trong kháng chiến chống Pháp. Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thì 1 ngày sau, ngày 20/12, tại đây, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch. Hang Trầm là nơi ghi dấu chân Người trong những ngày cách mạng hào hùng.
    Đứng trên đỉnh núi Trầm có thể nhìn thấy toàn cảnh vùng đất So Sở và các danh thắng kề cận như chùa Vô Vi, chùa Trăm Gian ....
    10. CHÙA MÍA
    Địa chỉ: xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội
    Chùa Mía thuộc làng Mía còn có tên chữ là Sùng Nghiêm Tự. Xưa kia, vùng này là Cam Giá, tên Nôm là Mía, nên chùa này được quen gọi là chùa Mía. Đây là ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam.
    Chùa Mía được xây dựng vào thời Trần. Đến thế kỷ XVII, chùa đã bị đổ nát, hoang phế nhiều. Năm Đức Long thứ tư (năm 1632), bà Nguyễn Thị Dong, vợ chúa Trịnh Tráng (1632 - 1657), được nhân dân tôn kính gọi là Bà Chúa Mía, đứng ra hưng công để xây dựng lại. Chùa nằm trên một ngọn đồi đá ong, có quy mô lớn, được tách ra làm ba khoảnh tách bạch. Phía ngoài cùng là gác chuông, tiếp đó là mảnh sân, ở phía bên góc phải là một cây đa vài trăm tuổi, tán lá sum suê che mát cả một khoảng rộng, tạo cho khu chùa Mía một cảnh yên tĩnh mát mẻ và linh thiêng. Qua một cổng gạch là đến dãy nhà thụ trai (nơi ở của các nhà sư). Tiếp đến là khu nhà chính gồm: Nhà bái đường, chùa hạ, chùa trong và thượng điện. Lúc đầu chùa Mía chỉ có cổng và 2 tòa thượng điện, hậu đường, mỗi tòa 7 gian dựng song song. Chùa được tu bổ và hoàn chỉnh dần vào thế kỷ XVII và thế kỷ XIX.
    Gác chuông của chùa là ngôi nhà 3 gian làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Các góc mái đều gắn đao triện. Sàn nhà bằng gỗ, ở tầng gác có hàng lan can tiện. Các ván long, xà nách đều được bào xoi cạnh và chạm trang trí đề tài hoa lá. Trên gác treo một quả chuông đúc năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) và một khánh đồng đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1864).
    Chùa Mía khá nổi tiếng với 287 pho tượng lớn, nhỏ, trong đó có 6 pho tượng đồng, 106 pho tượng gỗ và 174 pho tượng bằng đất luyện được sơn son thếp vàng. Ở chùa Trung có 2 pho tượng Hộ Pháp lớn và 8 pho tượng Kim Cương. Mỗi pho tượng là hình tượng một võ tướng đang trong tư thế chuẩn bị chiến đấu để trừ tà bảo vệ Phật pháp, hình khối, bố cục vững chắc, thân hình cân đối, đường nét thoải mái và khỏe. Tại chùa Thượng, người ta còn thấy các động bằng đất đắp. Trong và xung quanh các động có khá nhiều tượng. Trong một động có cả tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Pho tượng Tuyết Sơn cao 0,76 m và Quan Âm Tống Tử cao 0,76 m ở đây cũng rất đẹp. Tượng Quan Âm thường được gọi là tượng Bà Thị Kính, diễn tả một người phụ nữ thùy mị, có duyên, vẻ mặt hơi buồn nhưng rất hiền từ nhân hậu, ẵm một đứa bé bụ bẫm kháu khỉnh, đường nét chạm khắc mềm mại, trau truốt.
    Với những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc độc đáo, với quy mô bề thế và đẹp. Chùa Mía đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.
    11. ĐỀN QUÁN THÁNH
    Địa chỉ: Cuối đường Thanh Niên, Q. Ba Đình, Hà Nội
    Đền Quán Thánh với kiến trúc cổ kính, uy nghi tạo cho phía Nam hồ Tây một vẻ đẹp đặc sắc kinh kỳ. Khi dời đô về Thăng Long, năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã chọn địa điểm này để xây đền thờ thánh Trấn Vũ - vị thần trấn giữ phương Bắc. Vì thế, còn có tên là đền Trấn Võ, Quan Thánh Trấn Võ, hay Quán Thánh. Đây cũng chính là một trong những ngôi đền nổi tiếng trong “Thăng Long tứ trấn” của xứ Hà thành xưa.
    Các bộ phận kiến trúc hiện thấy, là kết quả của lần trùng tu lớn, hồi thế kỷ XIX, bao gồm: tam quan, sân, ba lớp nhà tiền đế, trung đế, hậu cung. Ở đây có pho tượng bằng đồng đen đúc năm 1677 (năm Vĩnh Trị thứ 2 - vua Lê Hy Tông), thay cho bức tượng gỗ có từ trước đó. Tượng cao gần 4m, nặng 4 tấn, chu vi phần dưới 8m, tạc hình Huyền Thiên mặc áo đạo sĩ màu đen, chân trần, cánh tay tròn vạm vỡ, ngón trỏ giơ lên ngực bắt quyết, tay phải chống gươm trên lưng rùa. Tượng đứng trên bệ đá cao 1,5m. Ngoài giá trị nghệ thuật, tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại Việt Nam, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây 3 thế kỷ.
    Ngoài nghệ thuật đúc đồng, đền Quán Thánh còn nổi tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ của ngôi đền, các đề tài như tứ linh, dơi, cá, tùng, trúc, cúc, mai, lẵng hoa, bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian và thượng giới... được chạm khắc một cách tinh xảo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê.
    Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần 1 thiên niên kỷ nhưng ngôi đền vẫn còn nguyên vẹn, duyên dáng bên hồ Tây thơ mộng và tồn tại trong lòng người Hà Nội.
    12. ĐỀN KIM LIÊN
    Địa chỉ: Phố Kim Hoa, Quận Đống Đa, Hà Nội
    Đình và đền Kim Liên (hay còn gọi là đền Cao Sơn) là trấn phía Nam trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long.
    Đền Kim Liên vốn được lập để thờ Cao Sơn Đại Vương (theo tín ngưỡng dân gian, thì đây là một người con của Lạc Long Quân Âu Cơ, sau theo mẹ lên núi). Theo tài liệu lưu giữ tại đền, thì đền được xây dựng dưới thời vua Lý Thái Tổ ngay khi vị hoàng đế này rời đô tới Thăng Long, với mục đích để bảo vệ kinh thành mới ở hướng Nam. Năm 1509, quân đội của Lê Tương Dực từ Thanh Hóa tiến về Thăng Long để lật đổ Lê Uy Mục đã đi qua đây, thấy đền thờ Cao Sơn Đại Vương liền vào xin phù hộ. Sau đó một tuần, sự nghiệp của Lê Tương Dực thành công. Vị vua này liền cho xây lại đền Kim Liên với kiến trúc như hiện nay.
    Sau này, dân làng Kim Liên đã lập thêm cổng tam quan ở phía trước cổng đền ngay sát đầm Kim Liên và bổ sung thêm một số kiên trúc mới, tạo thành đình Kim Liên. Ngoài Cao Sơn Đại Vương, trong đền và đình này còn thờ Tam Phủ, thờ Mẫu, và thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Kiến trúc của đình bao gồm 2 phần tương đối rõ: phần phía trước gò có một cổng trụ biểu, hai dãy giải vũ hai bên sân gạch rộng và phần kiến trúc chính của di tích nằm trên gò đất cao. Đi hết khoảng sân trên thì qua 9 bậc gạch cao được xây bằng những viên gạch vồ có kích thước lớn thời Lê Trung Hưng nối 2 bộ phận kiến trúc trên.
    Đình chính gồm nghi môn, đại bái cung cấm. Nghi môn là một nếp nhà 3 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Bốn bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, cột trốn. Trên các bộ phận kiến trúc các họa tiết trang trí được thể hiện sinh động, công phu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Nhà đại bái gồm 5 gian mới được thành phố tôn tạo trong dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, với kiểu dáng kiến trúc truyền thống. Hậu cung là một nếp nhà 3 gian dọc, xây gạch trần, mái lợp ngói ta. Trong nhà xây vòm cuốn, nội thất được bố trí như sau: gian ngoài cùng, bó bệ gạch cao để đặt hương án; gian thứ hai xây bệ gạch cao để đặt long ngai và các đồ tế khí. Gian cuối cùng là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương và hai nữ thần phối hưởng (Tôn nữ Động Hồ Trưng Vương - công chúa con gái vua Lê và Huệ Minh công chúa).
    Di vật quan trọng nhất tại đình Kim Liên là tấm bia đá "Cao sơn Đại Vương thần từ bi minh" do sử thần Lê Tung soạn năm 1510 nói về công lao của thần Cao Sơn trong việc ngầm giúp vua Lê giành lại ngai vàng từ tay ngoại thích và hệ thống 39 đạo sắc phong cho thần Cao Sơn Đại Vương, trong đó có 26 đạo thời Lê Trung Hưng, 13 đạo thời nhà Nguyễn, sớm nhất trong số đó là sắc phong có niên đại Vĩnh Tộ năm thứ hai (1620).
    Hội đền và đình Kim Liên được tổ chức vào ngày 16 tháng Ba Âm lịch hàng năm.
    13. ĐỀN VOI PHỤC
    Địa chỉ: Nằm cạnh Công viên Thủ Lệ, Quận Ba Đình, Hà Nội
    Đền Voi Phục được dựng trên đất làng Thủ Lệ xưa, là trấn phía Tây trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long. Sở dĩ gọi là đền Voi Phục vì tại cửa đền có đắp 2 con voi quỳ ngay ở cổng đi vào. Đền còn có tên là đền Thủ Lệ hoặc Linh Lang do thờ thần Linh Lang Đại Vương.
    Xây dựng từ đời Lý Thái Tông (1028 - 1054) bên một hồ rộng có tên là Linh Lang, đền thờ Linh Lang Đại Vương, tương truyền đây có thể là hoàng tử Hoằng Chân con vua Lý Thái Tông do một bà phi người làng Bồng Lai (Đan Phượng) sinh ra ở Trị Chợ, Thủ Lệ. Hoàng tử đã tham gia trận đánh quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu và hi sinh tại đó. Còn thần tích kể rằng: Cảo Nương là một cung phi của vua Lý ra tắm ở hồ Tây bị rồng cuốn lấy người, về có mang sinh ra hoàng tử trên mình có 28 vết vảy rồng và 7 hàng chấm sáng long lanh như ngọc trên ngực. Lớn lên Linh Lang xin đi cầm quân, đánh thắng quân Tống. Vua muốn nhường ngôi cho nhưng chàng từ chối, về ở Trại Chợ, sau bị bệnh từ trần hóa thành con rồng đem cuốn quanh phiến đá rồi đi xuống hồ Tây biến mất. Vua bèn cho lập đền thờ ở ngay nơi ở của hoàng tử.
    Thần Linh Lang đã bị bao phủ bởi một tấm màn huyền tích dày đặc, nhưng lần dở lại những trang sử có thể thấy thần Linh Lang là một nhân vật lịch sử có thật, đó là 2 hoàng tử nhà Lý đã theo Lý Thường Kiệt chống quân xâm lược Tống bên bờ sông Như Nguyệt và đã hy sinh. Và đền Linh Lang được lập để nghi nhớ công lao của 2 người anh hùng chống giặc ngoại xâm được nhân dân linh hóa thành thần Linh Lang biến thành giao long bò xuống nước và biến mất.
    Trải qua những biến thiên của lịch sử và nhiều lần trùng tu nay đền không còn hình dáng cũ. Đầu năm 1994, nhân dân Thủ Lệ đã quyên góp đúc lại quả chuông chiều cao 93cm, đường kính miệng 70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có 2 hàng chữ Hán đúc nổi "Tây trấn thượng đẳng". Lễ hội đền Voi phục được tổ chức vào khoảng ngày 9 - 11/2 Âm lịch. Đây là hội rước lớn với cờ quạt, chiêng trống, lọng, tàn, tán nối nhau thành hàng dài cùng phường bát âm và đội sênh tiền rất nhộn nhịp.
    14. ĐỀN BẠCH MÃ
    Địa chỉ: 76 Hàng Buồm, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Được xây dựng trước khi có kinh thành Thăng Long, đền Bạch Mã nằm ở hướng chính Đông, là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa. Xưa kia nơi đền Bạch Mã tọa lạc thuộc địa dư phường Hà Khẩu, tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức.
    Đền thờ thần Long Đỗ tức Bạch Mã, vị thần bảo hộ kinh thành Thăng Long. Theo truyền thuyết, khi vua Lý Công Uẩn định đô Thăng Long (1010), xây thành mà cứ bị sụt lở, ông tới đây cầu lễ và lạ thay, một buổi sáng chợt thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy rồi trở lại đền và vụt biến. Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây, thành không lở nữa. Vua bèn phong thần Long Đỗ làm Thành hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đó thần có thêm tên là Bạch Mã.
    Hiện tại ngôi đền có qui mô kiến trúc lớn gồm có nghi môn, phương đình, đại bái, thiêu hương, cung cấm và nhà hội đồng ở phía sau. Các hạng mục này được bố trí theo chiều dọc, trong một không gian khép kín. Kiến trúc đền còn lưu lại hiện nay chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Nổi bật trong kết cấu kiến trúc của đền là toàn bộ khung nhà gỗ với hệ thống cột gỗ lim lớn, các bộ vì đỡ mái được làm kiểu "giá chiêng chồng rường con nhị", đặc biệt là "hệ củng 3 phương" tại nhà phương đình vừa có tác dụng chịu lực, vừa là tác phẩm nghệ thuật và sử dụng để treo đèn trong các ngày lễ hội và kết cấu "vòm vỏ cua" đỡ mái hiên nhà thiêu hương. Trên các cốn gỗ, xà lách, xà ngang, các vì chồng rường đều có nhiều mảng trang trí với các đề tài phong phú và nét chạm chắc, khỏe.
    Hiện nay đền vẫn giữ nguyên cấu trúc, nhưng được sắp xếp lại theo cấu trúc “tam nguyên đồng hoá” tức là thêm điện thờ Phật và Mẫu, được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1986. Đến nay, đền còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như: bia đá, sắc phong, kiệu thờ, hạc thờ, đôi phỗng, Cùng với các giá trị về kiến trúc nghệ thuật, di tích đền Bạch Mã là một nguồn tư liệu quí để nghiên cứu, tìm hiểu Thăng Long-Hà Nội về nhiều mặt.
    Lễ hội đền hằng năm vào tháng Hai Âm lịch, trước đây có tổ chức lễ đánh trâu rước xuân. Có hơn 1000 năm lịch sử, đền Bạch Mã là một trong những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thủ đô Hà Nội.
    15. ĐỀN NGỌC SƠN

    Địa chỉ: Đường Đinh Tiên Hoàng, Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.
    Đền được xây dựng từ thế kỷ XIX. Lúc đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo, vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ XIII.

    Khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên đền là Ngọc Tượng, đến đời nhà Trần đổi tên là Ngọc Sơn. Tại đây đã có một ngôi đền dựng lên để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mông Nguyên. Về sau lâu ngày đền ấy sụp đổ, đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thuỵ Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía Đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội. Cuối đời nhà Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai, nhân nền cung cũ đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn.
    Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ Đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.
    Trên núi Ngọc Bội cũ, nhà nho Nguyễn Văn Siêu cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học. Người đời sau ca ngợi là: "Nhất đài Phương Đình bút". Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành.
    Tên cầu Thê Húc nghĩa là “giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời”. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên. Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía Bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút. Phía Namcó đình Trấn Ba (đình chắn sóng - ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có 8 cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ.
    Các nhân vật được thờ trong đền ngoài Văn Xương Đế Quân, Lã Động Tân, Quan Vân Trường, Trần Hưng Đạo, còn thờ cả Phật A-di-đà. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt nam.
    Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền Ngọc Sơn là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên.
    16. ĐỀN THỜ HAI BÀ TRƯNG
    Địa chỉ: Thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội
    Theo chính sử, Hai Bà Trưng quê ở làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, cha là quan Lạc tướng huyện Mê Linh nhưng mất sớm, mẹ là bà Nguyễn Thị Đoan (tên tục gọi là bà Man Thiện). Tương truyền, làng quê có nghề trồng dâu nuôi tằm, hai bà là chị em sinh đôi, bà chị có tên là Trưng Trắc, em gái có tên Trưng Nhị. Hai bà được mẹ mời thầy giỏi trực tiếp dậy bảo nên khi lớn đều văn võ song toàn, có lòng thương dân và ý chí tự lập. Năm mười chín tuổi, bà Trưng Trắc kết hôn với ông Thi Sách, con quan Lạc tướng thành Chu Diên (vùng Sơn Tây ngày nay) cũng là người có ý chí chống giặc Hán đô hộ. Một năm sau, ông Thi Sách bị viên quan Thái Thú nhà Hán là Tô Định giết. Căm thù giặc cướp nước, hận kẻ thù giết chồng, ngày 6 tháng Giêng năm Canh Tý (40 sau CN), được mẹ và thầy học cổ vũ, giúp đỡ, bà Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị dựng cở khởi nghĩa, quân dân trong vùng theo về rất đông tụ nghĩa dưới cờ. Trước lễ xuất quân, dưới ngọn cờ đào, bà Trưng tuốt gươm thề cùng trời đất, lời thề như lời hịch đầy hào khí, suốt hai ngàn năm sử sách và dân gian vẫn còn lưu giữ và truyền tụng…
    Để tưởng nhớ công đức của Hai Bà, nhân dân Vĩnh Phúc đã lập đền thờ tại thôn Hạ Lôi, xã Mê linh, huyện Mê Linh, hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ công đức của Hai Bà và các tướng lĩnh vào ngày mùng 6 tháng Giêng. Đền thờ Hai Bà toạ trên một khu đất cao thoáng đãng. Theo thuyết phong thuỷ: Đền toạ lạc trên thế đất "Trán con voi trắng" trong hình cao “Bạch tượng uyên hồ” (voi trắng uống nước trong hồ), đến tận bây giờ vẫn còn vết tích của những nơi như ao Mắt Voi, vòi voi và hồ Ao bàng; phía trước là đường kéo quân của Hai Bà Trưng xưa kia chạy vòng phía trước Đền. Sau đền là khu vực thành cổ gồm 2 lớp: trong là thành, ngoài là quách, dân gian gọi là Thành Ống.
    Đền thờ Hai Bà Trưng hiện nay có các công trình: Tam quan, nhà tiền tế, nhà trung tế và hậu cung. Phía ngoài hậu cung có cây Lụa già, là hộp thư bí mật, tại đây những năm 1943- 1944, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Đảng đã lấy đền thờ Hai Bà Trưng làm một trong những nơi hội họp bí mật để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thủ đô Hà Nội ngày 19/8/1945.
    Đền thờ Hai Bà Trưng là di tích lịch sử cách mạng đặc biệt quan trọng, được Nhà nước xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1980.
    17. ĐỀN GIÓNG
    Địa chỉ: Xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội
    Khu di tích lịch sử đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là nơi thờ Thánh Gióng cùng quần thể các đền thờ Phật và các vị thần. Đền thờ Thánh Gióng, một vị thánh có công đánh đuổi giặc Ân sang xâm lược nước Văn Lang vào đời vua Hùng Vương thứ 6. Sau khi đánh đuổi quân xâm lược ông đã phi ngựa đến chân núi Sóc Sơn, ghìm cương, cởi giáp và nón treo lên một cành cây, rồi quay chào bốn phía quê hương. Cả người lẫn ngựa từ từ bay thẳng lên trời, từ bấy đến giờ không còn thấy trở về dân gian. Từ đó hàng năm người dân tổ chức hội đền Sóc Sơn vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Dưới chân núi, ở dốc Mã và làng Mã có rất nhiều ao chuôm, người ta bảo đó là dấu chân ngựa của Thánh Gióng, khi về đến đây ngài xoay ngựa khắp bốn phía. Ngựa hí vang trời rồi mới nhún mạnh bốn vó phóng lên trời.
    Nhân dân trong xã cho biết: Trước kia đền quay về hướng Đông, tới đời Lê mới xoay về hướng Bắc với lý do “giặc thường từ hướng đó đến”, biểu lộ ý thức cảnh giác cao của cha ông ta trong truyền thống đánh giặc giữ nước.
    Hội đền ngay ở gần quốc lộ 3, có núi cao, rừng thông, hồ rộng tạo nên cảnh quan du lịch hấp dẫn không chỉ với du khách trong nước mà thu hút sự quan tâm, thích thú của đông đảo khách nước ngoài.
    18.ĐỀN VÀ
    Địa chỉ: xã Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Nội
    Đền Và còn gọi là Đông Cung thờ Đức thánh Tản Viên trong hệ thống tứ cung của xứ Đoài (Bắc Cung thuộc xã Tam Hồng, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc; Nam Cung thuộc xã Tản Lĩnh, Tây Cung thuộc xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội) thờ thần núi Tản Viên, vị thần đứng đầu trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
    Xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII, đền Và có quy mô khá lớn với nghi môn, tả - hữu mạc, hậu cung... tạo thành một quần thể kiến trúc theo kiểu cung đình. Ngoài thánh Tản Viên, đền còn thờ đức quốc mẫu - mẹ thánh Tản Viên và hai anh em Cao Sơn, Quý Minh - tướng của đức Tản Viên.
    Đền Và nằm giữa đồi Và, một đồi cây có diện tích khoảng 17.500 m² trồng nhiều cây lim cổ thụ, ngoài ra còn có mít, thông, đại, muỗm…. Trong đền trồng cây vóc vàng và hai bên nhà tiền tế có hai cây lan cao to, đây đều là những loài nở hoa về mùa hè. Theo thuyết phong thuỷ, khu đồi có hình dáng con rùa (Kim Quy) đang bơi về phía mặt trời mọc. Khu vực kiến trúc rộng khoảng 2.000 m² được bao ở hai bên và phía sau bởi tường thành bằng đá ong cao 2m15. Tường được xây hai lớp, theo cách thức thượng thu hạ thách, chính giữ lèn đất. Trong dân gian lưu truyền rằng, đá ong xây tường được lấy ở đồi Vông, thôn Vân Gia, còn gọi là "xóm Rắn" nên có câu thành ngữ "cấu cổ con xà, đè cổ con quy".
    Đền Và đang lưu giữ 5 bản thần tích "Tản Viên Sơn Thánh"; 18 đạo sắc phong của các đời vua, trong đó có 17 bản chính có dấu ấn; 47 đôi câu đối được chạm khắc, viết trên vách cột, trên gỗ và 18 bức hoành phi viết trên gỗ hoặc đá. Nơi đây còn có 2 bia đá, 3 chuông đồng, 4 tấm biển gỗ. Trên những hiện vật đó khắc ghi thời gian xây dựng, tu sửa, ca ngợi cảnh quan, uy linh của Thánh Tản Viên với nhiều nét trang trí có giá trị mỹ thuật cao vừa thể hiện nét văn hóa tâm linh. Các bản thần tích, sắc phong, văn bia đền Và rất giàu giá trị Hán - Nôm, trong đó có văn thơ của Nguyễn Khản, Nguyễn Thiện Kế, Trần Lê Nhân...
    Vị thần được thờ phụng ở đền Và là Thánh Tản Viên, đứng đầu trong tứ bất tử và là "Thượng đẳng tối linh thần", "Đệ nhất phúc thần", "Nam thiên thần tổ" ... "là người anh hùng văn hoá sáng tạo trong tư duy nông nghiệp, người anh hùng trị thuỷ, chống giặc, biểu tượng của khối đoàn kết bộ tộc, khi chết Tản Viên là phúc thần trừ tai hoạ cho dân". Từ thời Hậu Lê, nơi có đền Và là lỵ sở của huyện Tùng Thiện cũ, đền Và trở thành trung tâm tín ngưỡng hàng huyện nên người dân quan niệm ở đó thiêng hơn những nơi khác cũng thờ Thánh Tản Viên.
    Lễ hội đền Và diễn ra "xuân thu nhị kỳ". Hội mùa xuân vào dịp Rằm tháng Giêng kéo dài từ khoảng 13 đến 15 (Âm lịch) với nghi lễ trung tâm là rước long ngai bài vị "Tam vị Đức Thánh Tản" từ đền Và qua sông Hồng sang tả ngạn ở đền Dội (xã Vĩnh Linh, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) là nơi theo truyền thuyết Thánh Tản Viên đã tắm để tế lễ diễn lại sự tích này rồi quay trở lại đền Và. Cứ vào các năm , Ngọ, Mão, Dậu thì hội Rằm tháng Giêng được tổ chức lớn hơn gọi là hội chính. Hội mùa thu tổ chức vào Rằm tháng Chín, từ 14 đến 15 (Âm lịch) với nghi thức chính là đánh bắt cá ở sông Tích để chọn ra 99 con cá trắng to chế biến thành các món tế Thánh. Việc tế cá xuất phát từ truyền thuyết Thánh Tản Viên dạy dân kéo vó và bắt được 100 con cá, sau đó ngài phóng sinh một con cá trê đang có mang, về sau con cá này sinh được 9 con, đều hoá đá, đầu chầu về hướng đền Và.
    Lễ hội Đền Và là một trong những lễ hội lớn của vùng Sơn Tây - Ba Vì, trong hội có lễ rước kiệu thánh từ Đông Cung lên đền thờ Thánh Tản trên núi Ba Vì, tục đánh cá và lễ tắm tượng... Đền Và được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1964.
    19. PHỦ TÂY HỒ
    Địa chỉ: Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội
    Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, trước là một làng cổ của kinh thành Thăng Long nằm ở phía Đông của Hồ Tây. Phủ Tây Hồ hay gọi phủ Mẫu Tây Hồ thờ bà Chúa Liễu Hạnh - một trong những đại diện đạo Mẫu ở Việt Nam là một trong tứ bất tử của Việt Nam (Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh). Tục truyền rằng: bà là Quỳnh Hoa - con gái thứ hai của Ngọc Hoàng, bị đày xuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý. Xuống hạ giới, nàng chu du, khám phá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi địa linh sơn thủy hữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương giữa thiên nhiên huyền diệu.
    Như tiền duyên xui khiến, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan trong lần đi thuyền dạo chơi trên hồ, thấy cảnh đẹp, bèn ghé vào quán Tiên chúa. Tâm đầu ý hợp, họ cùng vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” mà nay vẫn còn lưu truyền. Tiên chúa ở đây trong bao lâu không ai biết, chỉ biết khi Phùng Khắc Khoan trở lại tìm thì không còn. Để nguôi ngoai nỗi nhớ, ông cho lập đền thờ người tri âm.
    Phủ Tây Hồ nơi người Hà Nội hay đi lễ vào các ngày mùng một, ngày rằm. Hàng năm vào rằm tháng riêng âm lịch, khách hành hương về đây rất đông, vừa đi lễ Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn, vừa đi thưởng ngoạn cảnh đẹp Hồ Tây và địa danh khác của Hà Nội.
    Phủ Tây Hồ còn gắn liền với truyền thuyết về Kim Ngưu (Trâu Vàng) và ở Phủ Tây Hồ cũng dựng một đền thờ là đền Kim Ngưu để thờ thần Trâu Vàng.


    CÁC ĐỊA DANH
    1. LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
    Địa chỉ: Quảng Trường Ba Đình, Hà Nội
    Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi đặt thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn.
    Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 m, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Cát được lấy từ suối Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình do người dân tộc Mường đem về; quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp, đá cuội được chuyển từ các con suối vùng Sơn Dương, Chiêm Hoá, Ngòi Thìa, Tuyên Quang...; nhân dân dọc dãy Trường Sơn còn gửi ra 16 loại gỗ quí. Các loài cây từ khắp các miền được mang về đây như: cây chò nâu ở Đền Hùng, hoa ban ở Điện Biên-Lai Châu, tre từ Cao Bằng... Thanh thiếu niên còn tổ chức buổi tham gia lao động trong việc mài đá, nhổ cỏ, trồng cây.
    Trên đỉnh lăng là hàng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" ghép bằng đá ngọc màu đỏ thẫm. Cửa lăng làm từ các cây gỗ quý Tây Nguyên. Tiền sảnh có dòng chữ "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" và chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh được dát bằng vàng. Hai bên cửa là hai cây hoa đại. Phía trước và phía sau lăng trồng 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 năm trong cuộc đời của Hồ Chủ tịch. Hai bên phía Nam và Bắc của lăng là hai rặng tre, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam. Trước cửa lăng luôn có hai người lính đứng gác, 1 giờ đổi gác một lần.
    Chính giữa lăng là thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong hòm kính khung bằng gỗ quý, điêu khắc hoa văn các đám mây, đặt trên một bục đá. Qua lớp kính trong suốt, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong bộ quần áo ka ki bạc màu, dưới chân có đặt một đôi dép cao su. Trong những dịp có người viếng lăng, sẽ có bốn tiểu binh đứng gác.
    Lăng hình vuông, mỗi cạnh 30 m, cửa hướng về phía Đông, hai phía Nam và Bắc có hai lễ đài dài 65 m dành cho khách trong những dịp lễ lớn. Trước lăng là Quảng trường Ba Đình với một đường dành cho lễ diễu binh, duyệt binh, và một thảm cỏ dài xanh tươi suốt bốn mùa. Phía trước lăng là cột cờ, lá Quốc kỳ được kéo lên vào lúc 6 giờ sáng và hạ xuống lúc 9 giờ tối hàng ngày. Thẳng tiếp qua sân cỏ là đường Bắc Sơn, có trồng hoa hồng đỏ và hoa đào. Tận cùng đường Bắc Sơn là Đài Liệt sỹ.
    Bên phía Tây của quảng trường là khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại đây có Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn Bác Hồ.
    Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của dân tộc Việt Nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu.
    2. NHÀ SÀN BÁC HỒ
    Địa chỉ: Nằm trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
    Nằm trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, ngôi nhà sàn Bác Hồ nằm nhỏ nhắn bình dị giữa những vòm cây, đường vào nhà rải sỏi, hai bên là hàng cây xoài, hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17/5/1958 cho tới khi Người qua đời.
    Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ, giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.
    Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền - Hà Tĩnh (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê...
    Theo ý Bác, mùa hè năm 1958, Cục Thiết kế cơ bản thuộc Tổng cục Hậu cần đã thi công ngôi nhà này. Kiến trúc sư là ông Nguyễn Văn Ninh, Cục trưởng Cục Thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty Tư vấn xây dựng, Bộ xây dựng). Ông Ninh là 1 trong 8 người Việt Nam học kiến trúc khóa đầu tiên ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Chính ông là người thiết kế lễ đài Ba Đình đón Bác và Trung ương Đảng, Chính phủ trở về thủ đô, ngày 1/1/1955.
    Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử.
    3. QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH
    Địa chỉ: Đường Hùng Vương, Quận Ba Đình, Hà Nội.
    Quảng trường Ba Đình là quảng trường lớn nhất Việt Nam, mang nhiều dấu ấn lịch sử trong truyền thống dân tộc Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lấp khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa. Đây là nơi diễn ra các cuộc diễu hành nhân dịp các ngày lễ lớn của Việt Nam, và cũng là nơi vui chơi, dạo mát của người dân thủ đô Hà Nội. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9/1886 đến tháng 1/1887.
    Nơi đây vốn là khu vực cửa Tây của thành Hà Nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, thực dân phá thành, làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Puginier. Nǎm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình.
    Mặt chính của quảng trường - mặt Tây - là lǎng Hồ Chủ tịch. Trước lǎng là quảng trường với thảm cỏ bốn mùa xanh tươi, giữa quảng trường, trước lǎng là cột cờ cao 25m.
    Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.
    4. THÁP RÙA
    Địa chỉ: Nằm trong Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Tháp xây trên gò Rùa nơi xưa từ thời vua Lê Thánh Tông đã dựng Điếu Đài ở đó để nhà vua ra câu cá. Sang thời Lê Trung Hưng (khoảng XVII - thế kỷ XVIII) thì Chúa Trịnh cho xây đình Tả Vọng trên gò nhưng sang thời nhà Nguyễn thì không còn dấu tích gì nữa.
    Ngọn tháp kết hợp phong cách kiến trúc Âu châu với hàng cửa cuốn gô-tích hai tầng dưới nhưng phần mái cong giữ quy thức kiến trúc Việt Nam.
    Theo truyền thuyết thì tháp Rùa đánh dấu nơi rùa thần Kim Quy hiện lên đòi lại gươm thần của vua Lê Lợi. Rùa hồ Gươm vào những ngày nắng ấm vẫn thỉnh thoảng nổi lên phơi mình trên gò nên càng làm câu chuyện truyền khẩu "gươm thần" thêm căn cứ.
    5. HỒ HOÀN KIẾM
    Địa chỉ: Đường Đinh Tiên Hoàng - Phố Hàng Khay, Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm) có một bề dày lịch sử và huyền thoại song hành với bề dày lịch sử của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.Cách đây khoảng 6 thế kỷ, hồ Gươm gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ.
    Hồ Gươm có thể còn nhiều tuổi hơn cả kinh thành Thăng Long xưa, và được mang khá nhiều tên: hồ Lục Thủy, hồ Tả Vọng, Hữu Vọng, hồ Thủy Quân. Tương truyền vào thế kỷ XV hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng, ghi lại thắng lợi của cuộc chiến đấu 10 năm của nhân dân Việt Nam chống lại quân Minh (1417 - 1427) dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi - lãnh tụ của nghĩa quân Lam Sơn qua sự tích bắt được thanh gươm thần trên sông Thu (quê hương ông). Ông mang bên mình thanh gươm báu ấy suốt 10 năm cùng Nguyễn Trãi lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi quân xâm lược Minh. Năm 1427, khi giặc tan, ông lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Lê Thái Tổ. Một hôm, Lê Thái Tổ ngự thuyền rồng dạo chơi quanh hồ. Bỗng một con rùa vàng nổi lên. Ông vung gươm chỉ vào rùa vàng. Tự nhiên thanh gươm rời khỏi tay và bay về phía rùa vàng. Rùa liền há miệng gậm thanh gươm báu lặn xuống lòng hồ. Vua Lê cho rằng đó là điềm lành của trời đất. Nước Việt Nam ta từ nay sẽ thanh bình, thịnh trị.
    Hồ Gươm là một phần không thể thiếu của Hà Nội ngàn năm, nó được ví như trái tim của Hà Nội nói riêng và của cả nước Việt Nam nói chung. Hồ Gươm chính là yếu tố quan trọng trong tổ chức không gian đô thị Hà Nội, là điểm định hướng, điểm nút vô hình của thành phố. Nó liên kết, và đảm bảo một sự chuyển giao có sắp xếp giữa các không gian đô thị trong thành phố. Hồ Gươm cũng tạo dựng được sự tương quan, cùng mối liên hệ, gắn bó và hỗ trợ qua lại rất mật thiết với khu vực phố cổ và khu phố cũ (khu phố Pháp). Có thể coi dấu ấn đặc sắc nhất mà một đô thị như Hà Nội có được, đã được tạo dựng bởi chính hai khu phố này với cái lõi chuyển tiếp đặc biệt là Hồ Gươm. Với vị trí trung tâm, Hồ Gươm đã đóng vai trò như là một vật trang điểm quý giá giữa hai phần của thành phố. Nó thanh lọc bầu không khí, và là gạch nối tuyệt vời giữa hai bộ phận không gian khác nhau, thể hiện sự tinh tế, khôn ngoan cùng tầm nhìn xa trông rộng trong quy hoạch. Nó đã và sẽ tiếp tục còn đem lại những lợi ích lâu dài cho các thế hệ tương lai.
    Những di tích lịch sử độc đáo quanh hồ Gươm như: tháp Rùa, tượng vua Lý Thái Tổ, đền Ngọc Sơn, đài Nghiên, tháp Bút, đền Bà Kiệu, chùa Bà Đá... và những công trình kiến trúc hiện đại, mới được xây dựng hoặc tu tạo nhưng luôn đảm bảo kết hợp hài hoà với cảnh quan vốn có quanh hồ. Hồ Gươm với đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và tháp Rùa lung linh bóng nước là hình ảnh của thủ đô Hà Nội trong mỗi trái tim người Việt Nam.
    6. HỒ TÂY
    Vị trí: thuộc quận Tây Hồ, phía Tây Bắc trung tâm thành phố Hà Nội
    Hồ Tây, mặt gương của Hà Nội, lá phổi của chốn Long thành có diện tích rộng hơn 500 ha với một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường vòng quanh hồ dài tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng hồ là một đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng... Có thể do sông hồ biến đổi như vậy mà đã xuất hiện nhiều truyền thuyết về hồ và tên gọi của hồ.
    Theo truyện "Hồ Tinh" thì có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo, vì truyện kể có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân. Long Quân mới dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ.
    Theo truyện "Khổng lồ đúc chuông" thì hồ lại có tên là Trâu Vàng. Truyện kể rằng có ông khổng lồ có tài thu hết đồng đen của phương Bắc đem đúc thành chuông. Khi thỉnh chuông, tiếng vang sang bên Bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ. Tới đây nó quần mãi đất, khiến sụt thành hồ.
    Theo thư tịch thì thế kỷ XI, hồ đi vào lịch sử với tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ XV thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ còn có tên là Lãng Bạc, trùng với tên nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân của Hai Bà Trưng và quân Hán ở vùng Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh.
    Hồ Tây từ lâu đã là thắng cảnh của đất Thăng Long - Hà Nội. Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc, cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chùa Kim Liên, điện Thuỵ Chương thời Lê nay là khu trường Chu Văn An...
    Nếu làm một cuộc đi dạo quanh hồ thì đồng thời cũng được thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh. Làng Nghi Tàm, quê hương nhà thơ "Bà huyện Thanh Quan" với chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân nguồn hoa đào mỗi độ xuân về, tương truyền là nơi Lạc Thị đời Hồng Bàng sinh ra một bọc trứng nở thành bảy con rồng. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng, làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh, sang làng Kẻ Bưởi có nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bách quan hội thề thời Lý, làng Thụy Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng một thời... và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh.

    Khách viếng thăm hãy cùng Sơn_cu xây dựng diễn đàn bạn nhé

  2. #2
    Quản Trị Sơn_cu's Avatar
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    133
    Thanks
    159
    Thanked 380 Times in 99 Posts
    7. HỒ TRÚC BẠCH
    Địa chỉ: Đường Thanh Niên, Quận Ba Đình, Hà Nội

    Hồ Trúc Bạch cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên. Đường Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958 theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi hồ được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những Ngày thứ Bảy Cộng sản mở rộng như ngày nay. Trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây.
    Hồ Trúc Bạch có từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp con đê ngăn góc Đông Nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư tịch cổ. Sách "Tây Hồ chí" cho biết nguyên ở phía Nam hồ có làng Trúc Yên, có nghề làm mành, do đó nhà nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Thời chúa Trịnh Giang (1729 - 1740) xây ở đây một cung điện gọi là Viện Trúc Lâm. Về sau, viện trở thành nơi giam cầm những cung nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp, bóng bẩy, nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc.
    Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh ở ngay góc Tây Nam hồ. Phía Đông có chùa Châu Long (phố Châu Long), tương truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành của công chúa con vua Trần Nhân Tông. Có đền An Trì, nơi thờ Uy Đô, một anh hùng chống quân Nguyên.
    Ba phía chung quanh hồ phố xá che khuất, chỉ có phía Tây giáp đường Thanh Niên mới bày ra vẻ đẹp êm ả phẳng lặng của mặt hồ. Phía Bắc hồ có một gò đất nhỏ, trên gò có đền thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời đô. Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), dời đô năm Canh Tuất (1010). Mà "Tuất" là "chó" - 1 trong 12 con vật theo lịch âm. Trong tín ngưỡng cổ truyền chó là con vật có khả năng xua đuổi tà ma, bảo vệ đất đai. Huyền thoại kể rằng trước ngày Lý Công Uẩn dời đô, có một con chó tới làm ổ đẻ con trên đỉnh núi Nùng, nơi này về sau dựng "Chính điện đài" và lập bên điện ngôi đền thờ chó mẹ và chó con. Đến triều đại sau, đền thờ Cẩu Nhi được dời ra ngoài hoàng thành, dựng trên gò trong hồ Trúc.
    Hồ Trúc Bạch cùng với công viên Lý Tự Trọng và Hồ Tây tạo thành một tổng thể thiên nhiên hài hoà, làm thành một thắng cảnh của thủ đô Hà Nội.
    8. CỘT CỜ HÀ NỘI
    Địa chỉ: 28A Điện Biên Phủ
    Công trình kiến trúc được xây dựng từ thế kỷ XIX. Là một trong những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành cổ Hà Nội. Với chiều cao đáng kể, cột cờ này được nhà binh Pháp khi đó dùng làm đài quan sát và trạm thông tin liên lạc giữa ban chỉ huy với những đồn bốt xung quanh, ban ngày dùng bằng tín hiệu, ban đêm dùng bằng đèn.
    Cột cờ được xây năm 1812 gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch. Tầng một mỗi chiều 42,5m, cao 3,1m; có hai cầu thang gạch dẫn lên. Tầng hai mỗi chiều 27m, cao 3,7m. Tầng ba mỗi chiều 12,8m, cao 5,1m; có bốn cửa, cửa hướng Đông trên có đắp hai chữ "Nghênh húc" (đón ánh nắng ban mai), cửa tây với "Hồi quang" (ánh sáng phản chiếu), cửa Nam với "Hướng minh" (hướng về ánh sáng), cửa Bắc không có chữ đề. Trên tầng này là thân cột cờ, hình trụ 8 cạnh, thon dần lên trên. Trong thân này có cầu thang 54 bậc xây xoáy trôn ốc lên tới đỉnh. Để tạo sự thông thoáng và ánh sáng lọt qua mỗi mặt trên thân cột cờ có từ 4 đến 5 ô hình hoa thị, vị trí cao nhất mỗi mặt có 1 ô hình dẻ quạt.
    Ðỉnh cột cờ được cấu tạo thành một lầu hình bát giác, có 8 cửa tương ứng 8 mặt. Giữa lầu là một trụ tròn, cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ. Toàn bộ cột cờ cao 33,4m. Nếu kể cả trụ treo cờ thì trên 41m.
    Cột cờ đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc trải qua bao thế kỷ. Khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công mang lại nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, lần đầu tiên, trên cột cờ lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới giữa trời.
    Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.
    9. VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM
    Địa chỉ: Đường Quốc Tử Giám, Quận Đống Đa, Hà Nội
    Trong số các di tích lịch sử của Hà Nội, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một di tích gắn liền với sự thành lập của kinh đô Thăng Long dưới triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang bề thế nhất, tiêu biểu nhất cho Hà Nội và cũng là nơi được coi là biểu tượng cho văn hóa, lịch sử Việt Nam.
    Từ năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông cho khởi dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám để tôn thờ và bồi dưỡng Nho học. Xây dựng khá quy mô, Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong khuôn viên hình chữ nhật. Mặt tiền cũng là chiều ngang rộng 75m, quay ra đường Quốc Tử Giám, phía sau giáp đường Nguyễn Thái Học. Chiều dài phía Bắc là đường Tôn Đức Thắng, phía Nam là đường Văn Miếu dài 306m.
    Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám, có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.
    Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.
    Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.
    Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khóa thi 1442 trở đi.
    Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái học.
    Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú. Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử Giám, trường quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.
    Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.
    Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia "Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ xưa.
    Trong Văn Miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau :
    - Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.
    - Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805). Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85cm x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời toả tia sáng. Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú của bầu trời toả xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Nơi đây thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia tiến sỹ.
    - Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là 2 khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện còn 82 tấm bia tiến sĩ về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Trong đó, 12 bia đầu tiên (cho các khoa thi những năm 1442 - 1514) được dựng vào thời Lê sơ, 2 bia (cho các khoa 1518, 1529) được dựng vào triều nhà Mạc, còn 68 bia cuối cùng (các khoa thi những năm 1554 - 1779) được dựng vào thời Lê trung hưng. Mỗi khu nhà bia gồm có 1 Bi đình nằm ở chính giữa và 4 nhà bia (mỗi nhà 10 bia) xếp thành hai hàng, nằm hai bên Bi đình. Bi đình khu bên trái Thiên Quang Tỉnh chứa bia tiến sĩ năm 1442, còn Bi đình khu bên phải chứa bia tiến sĩ năm 1448.
    - Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung.
    -Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải Thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.
    Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử). Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
    Năm 1999, để kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội (1010 - 2000), nhà nước ta cho xây dựng lại khu Thái Học - Văn Miếu theo lối kiến trúc cổ, thờ các vị vua: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và Nhà giáo Chu Văn An là những người có nhiều công giữ gìn và bồi đắp nền Nho học trong trường đại học đầu tiên của nước ta. Khuê Văn Các ở Văn Miếu -Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
    Ngày nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi Rằm tháng Giêng hằng năm, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức báo cáo kết quả của nền văn học trong năm và bình những bài thơ hay. Đây là nơi nhà nước tổ chức trao các hàm, học vị: Giáo sư, Viện sĩ, Tiến sĩ… cho những trí thức mới. Hằng năm, cứ sau kỳ tốt nghiệp bậc đại học, thủ khoa của các trường được về Văn Miếu - Quốc Tử Giám để Chủ tịch UBND TP Hà Nội trao bằng khen và tham quan, ngoài ra rất nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa được tổ chức tại Văn Miếu. Đặc biệt, khách nước ngoài từ khắp các lục địa cũng về đây hằng ngày để tham quan và tìm hiểu trường đại học đầu tiên của Việt Nam, Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
    10. THÀNH CỔ HÀ NỘI
    Thành cổ Hà Nội là một khái niệm tương đối rộng và tùy theo cách hiểu của mỗi người nó có thể bao gồm những thành phần khác nhau. Chưa có một định nghĩa thống nhất cho cụm từ này. Theo cách hiểu của người viết bài, Thành cổ Hà Nội bao gồm Hoàng thành Thăng Long qua các thời kỳ , Trần, và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn.
    Mùa thu năm 1010, sau khi công bố Thiên đô chiếu, Lý Công Uẩn cùng các quần thần đã gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của kinh thành Thăng Long. Đến đầu năm 1011 thì hoàn thành. Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình Tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành, vòng thành thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp thành còn lại là Tử cấm thành hay Cấm thành hay Long Phượng thành là nơi ở của nhà vua. Các thời sau đều theo cách ấy mà phân chia.
    Năm 1029, Lý Thái Tôn xây dựng lại toàn bộ khu cấm thành sau khi nơi đây bị tàn phá bởi vụ Loạn Tam vương. Trên nền cũ điện Càn Nguyên, Lý Thái Tôn cho dựng điện Thiên An làm nơi thiết triều. Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc. Phía trước điện Diên An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn. Hai bên tả hữu sân Rồng có đặt gác chuông. Phía Đông, Tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ, phía trước sân Rồng là là điện Phụng Tiên, trên điện có lầu Chính Dương là nơi báo canh báo khắc. Sau điện Diên An là điện Thiên Khánh hình bát giác. Sau điện Thiên Khánh là điện Trường Xuân. Trên điện Trường Xuân có gác Đồ Long. Từ điện Thiên Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng Năm 1203, vua Lý Cao Tôn bắt đầu một đợt xây dựng mới. Cung điện mới được xây ở phía Tây tẩm điện. Bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Chính Nghi, ở trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao. Ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. Bên trái xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang thềm gọi là Kim Tinh. Bên trái gác Nguyệt Bảo là tòa Lương Thạch, phía Tây xây gác Dục Đường (nhà tắm). Phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiêu. Phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đình Ngoạn Y. Ba mặt đình có trồng hoa thơm cỏ lạ, nước thông với sông. Ngoài ra các cung điện khác cũng được xây dựng liên tục, không đời nào không có, không mấy năm không có. Mỗi cung điện thường đều có tường bao xung quanh và làm cửa thông với cung điện khác. Ngoài cung điện, các vị vua nhà Lý còn cho xây dựng nhiều công trình văn hóa tín ngưỡng khác để phục vụ cho vua và hoàng tộc như: đền Quan Thánh, chùa Chân Giáo (nơi vua Lý Huệ Tôn đã tu hành), đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói bạc, hồ ao làm cảnh cũng được lập khá nhiều trong Hoàng Thành. Năm 1049, đào hồ Kim Minh vạn tuế, đắp núi đá cao ba ngọn trên mặt hồ và xây cầu Vũ Phượng đi vào, 10 năm sau lại xây thêm điện Hồ Thiên bát giác ở đấy. Năm 1051 đào hồ Thụy Thanh, hồ Ứng Minh. Năm 1098, đào hồ Phượng Liên và xây tại đây điện Sùng Uyên, bên trái lập điện Huy Dương, đình Lai Phượng bên phải dựng điện Ánh Thiềm, đình Át Vân, phía trước xây lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa. Nhiều vườn ngự cũng được dựng nên trong Hoàng Thành. Mùa thu năm 1048, mở luôn 3 vườn ngự: vườn Quỳnh Lâm, vườn Thắng Cảnh và vườn Xuân Quang. Năm 1065, mở thêm vườn Thượng Lâm. Giữa thế kỷ XIV lại dựng một vườn ngự nữa nối liền với hậu cung. Theo sử cũ còn ghi giữa vườn có đào một cái hồ lớn: "Trong hồ chất đá làm núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào đấy là chim quý thú lạ. Bốn mặt khai cho sông nước thông vào, gọi hồ ấy là hồ Lạc Thanh Trì. Về phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng một tòa điện gọi là điện Lạc Thanh. Lại đào các hồ nhỏ khác, bắt người ở Hải Đông chở nước mặn chứa vào hồ ấy, đẻ nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá biển và các loại ba ba. Rồi bắt người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy. Lại có hồ Thanh Ngư để nuôi cá Thanh Phụ (cá diếc đuôi đỏ vảy biếc)... Lại làm dãy hành lang ở tây điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc, dựng dãy Trường Lang từ gác Nguyên Huyền đến cửa Đại Triều phía tây.
    Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh (1430). Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý, Trần, Hồ chỉ có điều cung điện đền đài đã bị phá phách hết cả. Nhà Lê mới dần dần sửa chữa xây dựng thêm.
    Từ năm 1490 cho đến thế kỷ XVI kinh thành mới có nhiều thay đổi. Trong thời gian này tường Hoàng thành cũng như Đại La thành luôn được xây đắp mở rộng thêm ra. Năm 1490, để đề phòng những nạn loạn đảng như Nghi Dân đang đêm trèo tường vào giết Lê Nhân Tôn ở trong cung, Lê Thánh Tôn cho xây lại Hoàng thành mở rộng thêm 8 dặm nữa. Công việc xây dựng trong 8 tháng mới xong. Trong Hoàng thành, Lê Thánh Tôn cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng Lâm để nuôi bách thú. Năm 1512, Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài mà sử cũ miêu tả là tuy chưa hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm 1514, Lê Tương Dực mở rộng Hoàng thành thêm mấy nghìn trượng (mỗi trượng là 3,6m) bao bọc cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa. Từ năm 1516 đến năm 1527 là năm nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, kinh thành Thăng Long chìm trong loạn lạc. Hầu hết các cung điện kho tàng đền chùa cũng như phường phố bị thiêu đốt tàn phá nhiều lần. Trong nửa cuối thế kỷ XVI, cục diện Nam Bắc triều với một bên là nhà Mạc và một bên là Lê-Trịnh diễn ra quyết liệt với ưu thế ngày càng thuộc về phe Nam triều. Họ Trịnh lần lượt chiếm được nhiều tỉnh phía Bắc như Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh... và đánh đến tận Thăng Long. Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy lánh nạn nơi này nơi khác. Thăng Long ngày một điêu tàn. Đến năm 1585, không chịu nổi kiếp sống lưu vong trường kỳ như vậy, Mạc Mậu Hợp quyết định trở lại Thăng Long. Một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động. Từ đó về sau cũng không có lần nào Hoàng thành được xây dựng quy mô như thế nữa. Năm 1599 Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng tiến về tiếp quản Thăng Long. Hoàng Thành được tu sửa trong một tháng để đón vua Lê ra. Rồi từ ấy trở đi những cung điện mới xây ở đều nằm trong phủ Chúa. Hoàng thành bị bỏ hoang phế nhiều.
    Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị đem đại quân 29 vạn người sang chiếm Thăng Long không tốn một hòn tên mũi đạn. Dựa thế quân Thanh, Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần mới hết. Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro. Đầu năm 1789, Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, triều Hậu Lê kết thúc, Quang Trung định đô ở Phú Xuân. Thăng Long chỉ còn là Bắc thành. Năm 1802 sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế. Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân. Thăng Long vẫn mang tên gọi là Thăng Long nhưng chữ "Long" là rồng bị chuyển thành chữ "Long" nghĩa là thịnh vượng, ý rằng nhà vua không còn ở đấy. Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỉ XVIII cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành. Năm 1805, Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ vì cho rằng đây chỉ còn là Trấn Bắc thành mà Hoàng thành Thăng Long thì rộng lớn quá. Gia Long cho xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp. Về quy mô thì nhỏ hơn thành cũ nhiều. Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn, Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp. Người Pháp đổi Hà Nội thành thành phố. Đến khi chiếm xong toàn Đông Dương, họ lại chọn đây là thủ đô của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Thành Hà Nội bị phá đi hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính cho người Pháp. Ngoại trừ cửa Bắc và cột cờ những gì còn sót lại của thành Hà Nội đến hôm nay chỉ là di chỉ khảo cổ và phục dựng.
    Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu

    Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19.
    11. NHÀ HÁT LỚN
    Địa chỉ: số 1 Tràng Tiền
    Nhà hát Lớn Hà Nội bắt đầu xây dựng từ năm 1902 đến năm 1911 hoàn thành, theo kiểu mẫu nhà hát Opera ở Paris. Đây là một trong các trung tâm văn hóa của thủ đô Hà Nội, nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, ca múa nhạc, hòa nhạc, giao lưu...
    Vào năm 1995, Nhà hát Lớn Hà Nội được Chính phủ Việt Nam tu bổ lại để chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ được tổ chức tại Việt Nam vào năm 1998. Vốn của đợt tu bổ này là 156 tỷ đồng. Chủ nhiệm dự án là kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính. Nhà hát Lớn chiếm diện tích 2.600, chiều dài 87m, chiều rộng 30m, đỉnh so với mặt đường là 34m, phòng khán giả chính có diện tích 24 x 24m. Cầu thang giữa lên tầng hai là một sảnh chính rộng, cầu thang phụ và hành lang chạy vòng ở hai bên. Đằng sau sân khấu là phòng quản trị, 18 buồng hoá trang, 2 phòng tập hát, 1 thư viện và 1 phòng họp.
    Hiện tại sức chứa của Nhà hát là 900 ghế, xếp thành 3 tầng được thiết kế theo phong cách cổ điển Pháp thế kỷ XIX. Trần bên trên phòng khán giả do các hoạ sỹ Pháp vẽ. Đèn chùm đựợc dát một lớp vàng theo công nghệ mới. Đèn gắn trên tường làm bằng đồng theo kiểu cổ.
    - Sảnh chính: được lát đá Italy, có màu sắc tạo cảm giác như được trải tấm thảm lớn, dọc hai bên tường là hệ thống đèn chùm nhỏ mạ đồng, đèn chùm ở giữa mạ vàng
    - Phòng khán giả: lát gạch chất lượng cao và trải thảm chống cháy. Tường và trần trang trí bằng các hình vẽ cầu kỳ của các hoạ sĩ Pháp
    - Nhà gương: là phòng lễ nghi quan trọng thường xuyên đón tiếp các nhân vật cao cấp của Đảng Nhà nước, các nguyên thủ quốc gia, được lát bằng đá từ Italia, lắp ghép thủ công theo kỹ thuật Mozaic.
    12. NGÔI NHÀ CỔ 87 MÃ MÂY
    Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây nằm ở phía Bắc hồ Hoàn Kiếm. Phố Mã Mây xưa kia là hai phố: đoạn đầu là phố Hàng Mây chuyên bán song mây, đoạn sau là phố Hàng Mã, thời Pháp thuộc còn có tên Quân Cờ Đen. Ngôi nhà 87 phố Mã Mây đã trải bao biến cố thăng trầm lịch sử của thời gian, nhưng vẫn giữ nguyên lối kiến trúc cổ.
    Kiến trúc ngôi nhà theo kiểu nhà truyền thống: giữa các lớp nhà có sân trong để lấy gió và ánh sáng, tầng một (phần tiếp giáp mặt phố) dùng để bán hàng, phía trong để ở và sản xuất, phần trong cùng là bếp và khu vệ sinh. Tầng hai, phòng ngoài để thờ và tiếp khách, phòng trong là nơi ở. Ngôi nhà còn được giữ lại các chi tiết kiến trúc cổ Hà Nội.
    Trước năm 1945, chủ nhà là một thương gia gạo nổi tiếng đất Hà thành - ngôi nhà đã đón nhiều thương lái khắp mọi miền. Sau năm 1945, người chủ nhượng lại ngôi nhà cho một gia đình người Hoa giàu có làm nghề buôn bán và bốc thuốc. Người chủ mới chỉ gắn bó với ngôi nhà chưa đầy 10 năm thì di cư vào Nam, để lại ngôi nhà vắng chủ trong một thời gian dài.
    Đến năm 1999, ngôi nhà được trùng tu lại theo chương trình “Bảo tồn, tôn tạo phố cổ Hà Nội” - dự án giữa TP. Hà Nội với TP. Toulouse (Pháp). Nay, ngôi nhà là điểm tham quan hấp dẫn du khách trong, ngoài nước và là địa chỉ tái hiện sinh động bức tranh toàn cảnh sinh hoạt, buôn bán tấp nập của “Hà Nội ba mươi sáu phố phường xưa”.
    13. NGÔI NHÀ CỔ 38 HÀNG ĐÀO
    Hai ngôi nhà 87 Mã Mây và 38 Hàng Đào là hai căn nhà nằm trong dự án tái hiện những ngôi nhà cổ nhân dịp 990 năm Thăng Long - Hà Nộivà đã trở thành điểm du lịch để giới thiệu cho khách tham quan về giá trị của kiến trúc của những ngôi nhà cổ Hà Nội.
    Ngôi nhà 38 Hàng Đào, nguyên là đình Đồng Lạc (đình chợ bán yếm lụa). Đình được xây dựng từ thời vua Lê (thế kỷ XVII) với quy mô rộng rãi, nhưng vì chiến tranh, đình bị phá huỷ. Khoảng năm 1856 (niên hiệu Tự Đức, Bính Thìn), ngôi đình này được trùng tu. Năm 1941 (niên đại Bảo Đại 15), đình được xây dựng lại với quy mô hai tầng. Tầng một sử dụng để ở, điện thờ được đưa lên tầng hai. Trước và sau nhà có sân trồng cây. Ngồi nhà còn giữ lại được tấm bia đá cách đây hơn 150 năm (một di vật hiếm có ở các đình Hà Nội) và một số họa tiết trang trí của đình.
    Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn từ đầu năm 2000 và khánh thành vào tháng 4 năm 2000. Căn nhà 38 Hàng Đào đã được chọn là nơi giới thiệu sự kết hợp về kĩ thuật kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại. Với tư cách là kiến trúc sư, bà Tô Thị Toản, người đã trực tiếp chịu trách nhiệm về mặt kiến trúc bên ngoài, cho biết, vật liệu xây dựng được sử dụng ở đây là bằng bê tông chịu lực và gỗ: các cửa ra vào làm bằng bê tông, trong khi bậc thang được làm bằng bê tông và lát gỗ. Các cửa ra vào được thiết kế theo kiểu, cửa chính thì cao, các cửa xung quanh thấp như kiến trúc của chùa chiền và ngôi nhà chung: cửa chính dành riêng cho những người có địa vị cao (như thành viên của hoàng tộc, quan lại và công chức) trong khi cửa bên dành cho dân thường. Nhà thờ nơi cửa trước vẫn được giữ nguyên như ban đầu. Những họa tiết trên tay vịn cầu thang và lan can được giữ lại theo nguyên mẫu sẵn có. Căn nhà 38 Hàng Đào không những đã trở thành một địa chỉ tham quan mà còn được xác định là trụ sở chính của Hội Bảo tồn nhà cổ Hà Nội. Tại đây bạn sẽ được cung cấp nhiều thông tin hơn về phố cổ cũng như những ngôi nhà cổ của Hà Nội.
    14. CHỢ ĐỒNG XUÂN

    Địa chỉ: Chợ Đồng Xuân nằm trong khu phố cổ, phía tây là phố Đồng Xuân, phía bắc là phố Hàng Khoai, phía nam là phố Cầu Đông, phía đông là ngõ chợ Đồng Xuân.
    Năm 1889, khi những dấu tích cuối của sông Tô Lịch hồ Thái Cực bị lấp hoàn toàn, người Pháp quy hoạch lại đã giải tỏa hai chợ trên và dồn tất cả các hàng quán vào khu đất trống của phường Đồng Xuân, tạo thành chợ Đồng Xuân. Trong năm đầu tiên chợ họp ngoài trời, hoặc có che mái lá giống như hai chợ cũ.
    Năm 1890 chính quyền Pháp mới bắt đầu xây dựng chợ Đồng Xuân, tạo thành năm vòm cửa và năm nhà cầu dài 52m, cao 19m. Mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong, lợp mái tôn.
    Vào khoảng năm 1990, chợ được xây dựng lại, phá bỏ hai dãy hai bên, ba dãy giữa xây lên ba tầng. Hai tấm cửa hai bên cũng bị dỡ, nhưng vẫn còn giữ hai cột ngoài cùng.
    Năm 1994, chợ Đồng Xuân đã bị hỏa hoạn, lửa thiêu trụi gần như toàn bộ các gian hàng trong chợ.
    Chợ Đồng Xuân là chợ đầu mối dành cho bán buôn là chính. Xưa kia chợ bán rất nhiều loại hàng, nhưng hiện tại chủ yếu bán đồ điện tử, đồ gia dụng, vải vóc quần áo. Phía sau chợ có các hàng bán chim thú cảnh. Hàng thực phẩm và ăn uống chủ yếu bán ở chợ Bắc Qua. Phía Bắc của chợ, là các hàng ăn, phục vụ khách cả ăn đêm. Xung quanh chợ lúc nào cũng đông đúc nhộn nhịp. Hàng hóa từ đây vận chuyển đi khắp các tỉnh phía Bắc.
    Chợ đêm Đồng Xuân ra đời năm 2003 vừa đa dạng hóa hoạt động của chợ vừa phục vụ nhu cầu mua sắm vui chơi của khách du lịch. Chợ đêm Đồng Xuân kết nối với tuyến phố đi bộ Hàng Đào - Đồng Xuân tạo thành chuỗi chợ đêm kéo dài từ bờ Hồ đến chợ Đồng Xuân, thu hút đông đảo người Hà Nội và khách du lịch đến tham quan, mua sắm.
    15. LÀNG LỤA VẠN PHÚC
    Địa chỉ: Làng lụa Vạn Phúc nằm bên bờ sông Nhuệ, Hà Đông, Hà Nội.
    Vạn Phúc là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ xa xưa, nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. "Lụa Hà Đông" cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại.
    Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1.200 năm, bà A Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc. Bà đã truyền nghề lại cho dân làng và sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng.
    Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1938), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia... Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho đất nước.
    Ngày nay, lụa Vạn Phúc qua các thế hệ, những nghệ nhân và thợ dệt đã không ngừng cải tiến, nâng cao kỹ thuật sản xuất. Bởi thế, lụa Vạn Phúc dù ở loại nào cũng đạt tới mức hoàn mỹ, mịn óng, mềm mại với màu sắc óng ánh, đường nét tinh tế khi nổi khi chìm, có loại trang nhã, có loại rực rỡ.
    Trải qua bao thế hệ, lụa Vạn Phúc vẫn luôn giữ được những thủ pháp nghệ thuật truyền thống. Hoa văn bao giờ cũng trang trí đối xứng, đường nét trang trí không rườm rà, phức tạp mà luôn mềm mại, phóng khoáng, dứt khoát. Bởi vậy, lụa Vạn Phúc không chỉ được ưa chuộng ở trong nước mà đã vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam tới tay những người sành điệu bốn phương.
    16. LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM
    Địa chỉ: Sơn Tây, Hà Nội
    Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Đường Lâm trở thành làng cổ đá ong đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia ngày 19 tháng 5 năm 2006. Đây là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân như vua Ngô Quyền, Bố Cái Đại vương Phùng Hưng, Thám hoa Giang Văn Minh, bà Man Thiện (mẹ của hai Bà Trưng), bà chúa Mía (người xây chùa Mía, vương phi của chúa Trịnh Tráng), Khâm sai đại thần, Bộ trưởng Nội vụ, Phó Thủ tướng Phan Kế Toại, Thám hoa Kiều Mậu Hãn, họa sĩ Phan Kế An... Chính vì vậy, Đường Lâm còn được gọi là đất hai vua - Ngô Quyền và Phùng Hưng.
    Đường Lâm gồm 9 làng, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, và tín ngưỡng hàng ngàn năm nay không hề thay đổi. Ngày nay, làng Đường Lâm vẫn giữ được hầu hết các đặc trưng cơ bản của một ngôi làng người Việt với cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình, chùa, miếu, điếm canh, giếng nước, ruộng nước, đồi. Hệ thống đường xá của Đường Lâm rất đặc biệt vì chúng có hình xương . Với cấu trúc này, nếu đi từ đình sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh.
    Một điểm đặc biệt là Đường Lâm còn giữ được một cổng làng cổ ở làng Mông Phụ. Đây không phải là một cổng làng như các cổng làng khác ở vùng Bắc Bộ có gác ở trên mái với những mái vòm cuốn tò vò mà chỉ là một ngôi nhà hai mái đốc nằm ngay trên đường vào làng. Cũng ở làng Mông Phụ có đình Mông Phụ - được xây dựng năm 1684 (niên hiệu Vĩnh Tộ đời vua Lê Hy Tông) - là ngôi đình đặc trưng cho đình Việt truyền thống. Sân đình thấp hơn mặt bằng xung quanh nên khi trời mưa, nước chảy vào sân rồi thoát ra theo hai cống ở bên tạo thành hình tượng hai râu rồng. Hàng năm, đình tổ chức lễ hội từ mùng Một đến mùng Mười tháng Giêng âm lịch với các trò chơi như thi lợn thờ, thi thờ...
    Trong số 8 di tích lịch sử - văn hóa ở Đường Lâm (có đình Mông Phụ), chùa Mía (tức Sùng Nghiêm tự) được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp vào loại đặc biệt. Chùa có 287 pho tượng gồm 6 tượng đồng, 107 tượng gỗ và 174 tượng đất (làm từ đất sét, thân và rễ cây si).
    17. GM BÁT TRÀNG

    Địa chỉ: Làng Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội
    Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng Bát Tràng, một làng gốm cổ truyền và nổi tiếng của Việt Nam. Xã Bát Tràng gồm hai thôn Giang Cao và Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát nghĩa là chén bát, đồ gốm và chữ “Tràng” (hay Trường) là chỗ đất dành riêng cho chuyên môn.
    Có nhiều giả thuyết về sự ra đời của làng gốm Bát Tràng, trong đó có một giả thuyết đáng được quan tâm là làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời hậu Lê, từ sự liên kết chặt chẽ giữa 5 dòng họ làm gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát như Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm với họ Nguyễn (Nguyễn Ninh Tràng) ở đất Minh Tràng.
    Từ khi những sản phẩm của làng gốm Bát Tràng ra đời đã được các bậc vương giả quyền quý ở kinh thành Thăng Long cho đến nông phu chân lấm tay bùn ở thôn quê đều ưa chuộng. Không những thế, nhiều đồ gia dụng thường ngày ở Bát Tràng còn vượt ra biên giới đất Việt. Từ thế kỷ XV, đồ gốm Bát Tràng có mặt trong lễ vật triều cống cho các hoàng đế Trung Hoa-nơi có truyền thống làm gốm sứ từ hàng ngàn năm trước và nổi tiếng khắp thế giới. Từ đó về sau, thời đại nào, dù suy hay thịnh, thì làng gốm Bát Tràng vẫn khẳng định giá trị hàng hóa của mình, nghề gốm vẫn trụ vững và vượt qua mọi thử thách.
    Từ vài thập kỷ nay, sức sống của làng nghề truyền thống vẫn được thổi lên bởi ngàn lò gốm cháy rực suốt ngày đêm. Hiện nay, ở Bát Tràng nhiều lò gốm đã không dùng than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà đã dùng lò công nghiệp đốt bằng ga nên hạn chế được sự ô nhiễm môi trường đồng thời cũng giảm được lượng phế phẩm.
    Theo các nghệ nhân của làng, đề tài phổ biến của các sản phẩm gốm Bát Tràng là hình rồng, phượng, câu đối, hoa văn, cảnh người, cảnh hoa, cảnh thiên nhiên... đều phản ánh đời sống tâm linh và triết lý của con người Việt Nam.
    Từ các thế kỷ trước, gốm Bát Tràng chủ yếu là đồ thờ. Về sau gốm Bát Tràng đã có nhiều đồ gia dụng, phổ biến nhất là bát, đĩa, bình, lọ, ấm chén. Và ngày nay, gốm Bát Tràng đã có khá nhiều mặt hàng phong phú về chủng loại và kiểu dáng, bao gồm cả những mặt hàng mỹ nghệ như đĩa treo tường, lọ hoa, con giống, tượng phiên bản và phù điêu với kỹ thuật và công nghệ cao. Các bộ sưu tập gốm sứ Bát Tràng đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật chế tạo đồ gốm sứ ở Việt Nam.
    Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng trong cả nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới từ năm 1990 như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước trong khối EU. Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát Tràng đang được lưu trữ tại một số viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện Bảo tàng Royaux - Bỉ, Viện Bảo tàng Guimet - Pháp.
    Mới đây, Hiệp hội Gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu "Bát Tràng Việt Nam - 1000 năm truyền thống".
    Hàng năm, lễ hội làng Bát Tràng được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 (âm lịch) và thường kéo dài 7 ngày.

    18 .THÀNH CỔ LOA
    Vị trí: Thuộc địa phận xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, nằm bên quốc lộ số 3, cách trung tâm Hà Nội 17km về phía Bắc.
    Đây là vùng đất đô thành của nước Âu Lạc, thế kỷ III trước Công nguyên, của triều đại An Dương Vương và là kinh đô đầu tiên của Nhà nước phong kiến độc lập với vua Ngô Quyền vào năm 939.
    Thành Cổ Loa do An Dương Vương xây dựng, theo truyền thuyết có 9 lớp thành, nay chỉ còn dấu vết của ba lớp: thành trong, thành giữa và thành ngoài lồng vào nhau. Cả ba vòng thành dài khoảng 16 km, rộng hơn 400ha. Sông Thiếp tức Hoàng Giang làm hào thiên nhiên bao quanh, trước còn nối với sông Hồng và sông Cầu, nên Cổ Loa đã từng là cảng lớn của nước ta.
    Với chiều cao trung bình của tường thành nay là 5m, mặt rộng từ 6 đến 12m, chân thành từ 20 đến 30m, chỉ tính 3 vòng thành còn lại khối lượng đất đắp đã trên 2 triệu m3, chứng tỏ Cổ Loa là một công trình xây dựng đồ sộ, một thành tựu lao động to lớn của nhân dân ta thời xưa. Về mặt quân sự, thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự kiên cố và lợi hại. Mặt ngoài thành dựng đứng như bức tường cản giặc. Mặt trong thoai thoải gần thành những bậc thang để quân lính đi lại tuần tra canh gác và vận động lên mặt thành nhanh chóng. Phía ngoài sát chân thành có hào sâu nối với sông Hoàng trở thành những đường vận chuyển của quân thuỷ rất lợi hại. Cấu trúc của thành Cổ Loa cũng đặc biệt. Thành trong cùng là một hình chữ nhật cân xứng. Còn hai vòng thành ngoài không có hình dáng rõ rệt, khoảng cách giữa các vòng cũng không đều, cho nên nhìn chung như xoáy ốc vì vậy mà có tên là Loa thành (Thành ốc). Những di tích phụ thuộc vào thành cổ còn có Gò Cột Cờ, Ngự Xạ Đài, Gò Đống Sắn, Gò Đống Chuông, Gò Đống Giáo, Gò Pháo Đài… những vọng gác được gọi là "hoả hồi" và dấu vết các cửa thành.
    Truyền thuyết kể rằng: Khi xây Thành ốc cứ đắp thành cao lại đổ phải nhờ có Trấn Tiên Huyền Vũ trừ yêu gà trắng, thành mới xây xong. Sau lại có thần Kim Quy hiện lên ở sông Hoàng, chỗ này có chiếc cầu đá vào chợ Sa, thần cho móng làm lẫy nỏ thần để giữ nước.
    Sau 50 năm trị vì, vua Thục mắc mưu Triệu Đà cho con là Trọng Thuỷ sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu và ở rể. Trọng Thuỷ đánh cắp nỏ thần để vua cha đem quân sang cướp nước Âu Lạc. Ngày quân Triệu chiến thắng cũng là ngày bi thảm của mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.
    Đền Thục An Dương Vương, xây dựng năm 1687 đời Lê Hy Tông, sửa lại năm 1689 thường gọi là Đền Thượng, đứng trên một quả đồi xưa có cung thất của vua. Cửa đền có hai con rồng đá uốn khúc, tay vuốt râu, nghệ thuật điêu khắc thời Lê. Nhà bia có 3 tấm bia đá khắc năm 1606. Trong đền có đôi ngựa hồng làm năm 1716, tượng đồng vua Thục năm 1897, nặng 255kg.
    Giếng Ngọc, nằm ngay trước đền, là một hồ hình bán nguyệt, giữa đắp bờ tròn tạo thành giếng ngọc. Tương truyền đây là nơi sau khi phản bội, Trọng Thuỷ tự tử, nước giếng này đem rửa ngọc trai thì ngọc sáng đẹp bội phần, cho nên thành tên.
    Am Bà Chúa, tượng bà chúa Mỵ Châu là một hòn đá tự nhiên có hình dáng người cụt đầu. Huyền thoại kể rằng: Sau khi Mỵ Châu hóa thành hòn đá to trôi dạt về bãi Đường Cấm, ở phía Đông thành Cổ Loa. Dân trong thành đem võng ra cáng về đến gốc đa thì đứt võng, hòn đá rơi xuống, bèn lập am thờ ngay tại chỗ. Trên tường am có bức hoành khắc bài thơ chữ Hán của nhà thơ Chu Mạnh Trinh.
    Dinh Ngự Triều Di Quy, xây dựng trên nền điện thiết triều cũ, năm 1907 thời Nguyễn. Dáng vóc vững chãi, bề thế, mái đao vút cong. Cột đình có đôi câu đối của Tôn Thất Thuyết, một thủ lĩnh Cần Vương chống Pháp.
    Hội đền Cổ Loa tổ chức vào đầu xuân hàng năm. Cổ Loa còn là một khu di chỉ khảo cổ quan trọng với nhiều hiện vật đã được khai quật thời kỳ đồ đá, đồ đồng… chứng minh đây là nơi cư trú của những người nguyên thủy, mới đây lại tìm thấy trống đồng ở ngay khu thành nội. Những di tích quý giá đó càng làm cho Cổ Loa có bề dày lịch sử, thật đáng trân trọng, thật đáng tự hào.
    19. THÀNH CỔ SƠN TÂY

    Địa chỉ: Thị xã Sơn Tây, Hà Nội
    Thành cổ Sơn Tây là một tòa thành quân sự kiến trúc bằng gạch đá ong (là loại vật liệu xây dựng đặc thù của vùng Sơn Tây, Thành được xây dựng vào năm 1822 triều vua Minh Mạng nhà Nguyễn, tại thủ phủ của trấn Sơn Tây (sau là tỉnh Sơn Tây). Thành đồng thời từng là thủ phủ của vùng Tam tuyên (3 tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang thời nhà Nguyễn), vì Tổng đốc Tam tuyên cũng thường kiêm lý Tuần phủ Sơn Tây và lỵ sở Tổng đốc Tam tuyên chính là thành Sơn Tây. Thành cổ này, trong khoảng thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ XIX, là một trung tâm phòng bị kháng chiến chống Pháp của quan lại triều đình nhà Nguyễn (với những nhân vật lãnh đạo như: Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc,...). Ngày nay, tòa thành này vẫn còn tồn tại ở trung tâm thị xã Sơn Tây, Hà Nội và trở một di tích lịch sử và kiến trúc quân sự.
    Thành cổ Sơn Tây được kiến trúc theo kiểu Vauban (kiểu công trình quân sự lấy theo tên kỹ sư Vauban người Pháp), tường thành chạy theo đường gãy khúc, nhưng tổng thể có hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 400 m, diện tích khoảng 16 ha, chiều cao tường thành khoảng 5 m. Ngoài thành là hào nước sâu 3 m, rộng tới 20 m và dài khoảng 1.795 m, được nối ra sông Tích Giang tại góc thành phía Tây Nam (bởi cống Ba Quân), bốn mặt thành có các cổng vòm bằng đá ong. Tường thành nằm ở khoảng tọa độ 21°08'11,11" - 21°08'28,76" Vĩ Bắc và 105°30'07,49" - 105°30'26,48" Kinh Đông. Thành nằm giữa thị xã Sơn Tây, trên phần đất của hai làng cổ là Thuần Nghệ và Mai Trai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 42 km. Thành có 4 cửa quay ra các hướng Bắc (chính xác là hướng Bắc Đông Bắc), Nam, Tây, Đông, và lần lượt có tên là: cửa Hậu, cửa Tiền, cửa Hữu, cửa Tả. Hai cửa chính là cửa Tiền và cửa Hậu, có cầu bắc qua hào nước, dẫn vào cổng thành. Trục kiến trúc chính của thành là trục nối hai cửa Tiền và Hậu, theo hướng Bắc Đông Bắc - Nam Tây Nam. Cửa Tiền nhìn ra phố Quang Trung. Cửa Hậu hướng ra phố Lê Lợi (nơi đặt trụ sở Ủy ban Nhân dân thị xã Sơn Tây), thẳng tới bờ sông Hồng. Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ (phố Phùng Khắc Khoan). Cửa Hữu hướng ra phố Trần Hưng Đạo (Đệ Nhị cũ), phố này nối với phố Ngô Quyền, chạy thẳng lên làng cổ Đường Lâm (theo quốc lộ 32). Trong thành có các hạng mục kiến trúc: cột cờ (tức vọng lâu) cao 18m, vọng cung, điện Kính Thiên, hai ao sen (còn gọi là giếng Tả và giếng Hữu) phía trước khu nghi lễ (Đoan Môn, sân chầu, điện Kính Thiên), gần với cửa Tiền. Điện Kính Thiên ở đây từng là tòa nhà 5 gian, tám mái chồng diêm, nằm khoảng chính giữa thành, là nơi làm việc của các vua nhà Nguyễn mỗi khi tuần du xứ Đoài của Bắc Kỳ. Cửa Hữu quay ra hướng Tây Tây Bắc hiện còn nguyên vẹn nhất. Cửa Tiền cũng còn tương đối nguyên vẹn, nhưng hai cửa Tả, Hậu thì bị đổ nát (riêng cửa Hậu thì được xây lại mới bằng đá ong nhưng với kỹ thuật xây hiện đại nên đã bị mất tính cổ kính của một di tích).
    20. NHÀ THỜ LỚN

    Địa chỉ: 40 Nhà Chung, Hà Nội

    Xây dựng trên khu đất cao vốn là chân tháp Bảo Thiên nổi tiếng của Thăng Long có từ thời Lý Thánh Tông (1054 - 1072). Nhà thờ Lớn khánh thành đúng vào lễ Giáng sinh năm Đinh Hợi (1887). Đây là một kiến trúc khá đồ sộ. Hai gác chuông hai bên cao 30m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá. Nhà thờ được thiết kế theo kiểu kiến trúc Gôtích rất thịnh hành trong thế kỷ XII và thời Phục hưng ở châu Âu. Ngoài các lễ trọng của công giáo về Chúa Giêsu và Đức mẹ, xứ đạo Hà Nội còn tổ chức lễ rước Thánh Quan Thầy của địa phận Hà Nội là Giuse vào ngày 19 tháng 3 hàng năm.

    Nhà thờ Lớn Hà Nội hay Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, là một nhà thờ cổ tại Hà Nội. Nơi đây thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các giáo dân Hà Nội thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội.

    21. PHỐ CỔ HÀ NỘI
    Khu vực phố cổ của Hà Nội nằm trong diện tích khoảng 100 ha, thuộc trong địa phận của quận Hoàn Kiếm. Nếu nhìn trên phương diện hình học, thì khu vực phố cổ có hình như một hình tam giác mà các cạnh của nó được giới hạn bởi phố Hàng Than, phía Đông quay ra hướng sông Hồng, phía Tây là các phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da với trục chính gồm các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ. Những chứng tích lịch sử đã chỉ ra rằng, phố cổ Hà Nội đã có ngay từ khi thành Thăng Long được tái thiết, tức là khoảng gần một nghìn năm trước. Hầu hết các ngôi nhà hiện nay nằm trong khu vực “phố cổ hiện nay” đều nằm ngoài rìa, nhưng chúng cũng có “tuổi đời” chừng trên trăm năm, có một diều là những ngôi nhà cổ trong khu vực này hiện không giữ được cái “vẻ cổ kính” như con số tuổi tác của chúng. Chính điều này đã làm cho cái nhìn tổng thể về phố cổ bị sai lệch đi khá nhiều. Chính vì thế, sự mô tả chi tiết, sự tái hiện và khôi phục phố cổ đòi hỏi những nỗ lực rất lớn.
    22. BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH

    Địa chỉ: Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng ở phía sau Lǎng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặt chính hướng ra đường Hùng Vương
    Bảo tàng Hồ Chí Minh là một bảo tàng vào loại lớn nhất của Việt Nam. Bảo tàng tập trung chủ yếu vào việc trưng bày những hiện vât, tư liệu về cuộc đời và con người Chủ tich Hồ Chí Minh. Bảo tàng nằm trong khu vực có nhiều di tích như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích Phủ Chủ tịch, chùa Một Cột... tạo thành một quần thể các di tích thu hút khách thăm quan trong và ngoài nước. Bảo tàng Hồ Chí Minh là một công trình vǎn hoá lớn được xây dựng theo nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam để tưởng niệm vị lãnh tụ vô cùng kính yêu của mình - Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng Giải phóng dân tộc, nhà vǎn hoá kiệt xuất. Công trình được khánh thành ngày 19/5/1990, đúng vào kỷ niệm 100 nǎm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là thể hiện lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm của nhân dân Việt Nam kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người, đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, hợp tác và hữu nghị với nhân dân thế giới.
    23. BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Địa chỉ: 28A Điện Biên Phủ, Q. Ba Đình, Hà Nội
    Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, trước đây gọi là Bảo tàng Quân đội, là viện bảo tàng về lịch sử quân sự Việt Nam, mở cửa lần đầu vào dịp kỷ niệm 15 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22 tháng 12 năm 1959) trên diện tích đất khoảng 10.000m². Diện tích trưng bày là 2.000m².
    Bảo tàng trưng bày những hiện vật và tài liệu giới thiệu quá trình ra đời và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
    Nội dung trưng bày chia làm 6 phần:
    - Lịch sử của dân tộc và sự ra đời của Quân đội Nhân dân Việt Nam
    - Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
    - Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ
    - Quân đội Việt Nam tiến lên chính quy hiện đại
    - Quân dân một lòng - bách chiến bách thắng
    - Khu trưng bày ngoài trời có máy bay, xe tăng, trọng pháo, thiết giáp, tên lửa, súng cối, bom... đều là những hiện vật có kích thước lớn.
    Bảo tang còn trưng bày những bản đồ, sa bàn về chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, những hiện vật quý về các trận đánh và những chiến sỹ anh hùng trong lực lượng vũ trang.
    24. BẢO TÀNG MỸ THUẬT

    Địa chỉ: Số 66 phố Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình, Hà Nội.
    Bảo tàng lưu giữ và trưng bày các tác phẩm, mỹ thuật có giá trị của các hoạ sĩ, nhà điêu khắc của Việt Nam qua nhiều thế hệ. Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của Mỹ thuật Việt Nam. Hệ thống trưng bày được chia thành 3 phần chính:
    - Mỹ thuật thời tiền sử - sơ sử, gồm các hiện vật từ thời đồ đá, đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt.
    - Mỹ thuật cổ từ thế kỷ XI - XIX, thuộc các triều đại từ Lý, Trần, Lê đến Mạc, Tây Sơn và Nguyễn.
    - Mỹ thuật thế kỷ XX, mỹ thuật cận đại (1925 - 1945) và hiện đại (1945 đến nay).
    Bên cạch các sưu tập được trưng bày theo tiến trình lịch sử, tại đây còn giới thiệu 2 bộ sưu tập:
    - Mỹ thuật dân gian.
    - Nghệ thuật gốm Việt Nam.
    25. BẢO TÀNG CÁCH MẠNG

    Địa chỉ: 25 Tông Đản, Hoàn Kiếm, Hà Nội

    Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là nơi tái hiện lịch sử đấu tranh hàng trăm năm qua của nhân dân Việt Nam chống phong kiến, chống Pháp, chống Nhật, chống Mỹ, giành lại nền độc lập tự do cho Việt Nam.
    Tháng 12 năm 1954, sau 2 tháng trở về Hà Nội, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) quyết định xây dựng Viện Bảo tàng Cách mạng. Từ đây việc thu thập hiện vật được tiến hành trên khắp miền Bắc và tới ngày mùng 6 tháng 1 năm 1959, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam làm lễ khánh thành. Nội dung trưng bày gồm ba phần.
    Phần thứ nhất: Thời kỳ đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam từ 1858 đến 1945.
    Phần thứ Hai: Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc từ 1945 đến 1975.
    Phần thứ Ba: Việt Nam trên con đường xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh từ 1975 đến nay.
    26. BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC

    Địa chỉ: Ðường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
    Nằm trên một khu đất rộng 3ha, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được khai trương vào cuối năm 1997, lưu giữ các hiện vật, tài liệu phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán của 54 dân tộc trên khắp cả nước. Ngay từ khi ra đời, nơi đây đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch và các nhà nghiên cứu văn hoá, dân tộc học trong nước và quốc tế.
    Bảo tàng Dân tộc học lưu giữ 10.000 hiện vật, 15.000 ảnh đen trắng, hàng trăm băng video, băng cát-sét phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục, tập quán của 54 dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam.
    Hiện vật trưng bày được sắp xếp, bố trí một cách khoa học, dễ hiểu, dễ cảm thụ.
    Khu trưng bày thường xuyên trong nhà có diện tích 2.500m² (bao gồm 2 tầng) được chia làm 8 phần:

    - Giới thiệu chung
    - Giới thiệu dân tộc Việt (Kinh)
    - Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày, Thái và Ka dai
    - Các dân tộc nhóm ngôn ngữ H' Mông, Dao, Tạng, Sán Dìu, Ngái.
    - Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.
    - Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo.
    - Các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer.
    - Giao lưu, hội nhập giữa các dân tộc.
    Khu trưng bày ngoài trời giới thiệu những phong cách kiến trúc đặc trưng nhất của các dân tộc Việt Nam. Hiện tại đã có trưng bày về ngôi nhà dài Ê-Đê, nhà sàn Tày, ngôi nhà nửa sàn và nửa trệt của người Dao, nhà mái lợp bằng gỗ pơ-mu của người H'Mông, ngôi nhà Việt với mái lợp ngói, ngôi nhà mồ Gia-Rai, nhà Rông của người Ba-Na, ngôi nhà Chăm và ngôi nhà đất trình tường của người Hà Nhì.
    27. GÒ ĐỐNG ĐA

    Địa chỉ: Phố Sơn Tây, Đống Đa, Hà Nội
    Gò Đống Đa là một gò nằm bên đường phố Tây Sơn, phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tại đây năm 1789 quân Tây Sơn đã đại phá và đánh thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa.
    Đêm 4 rạng ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), trận đánh của quân Tây Sơn diễn ra với sự tham gia của nhân dân vùng Khương Thượng, do Đô đốc Long (còn có tên là Đặng Tiến Đông) chỉ huy. Trận này diệt tan đồn Khương Thượng của quân nhà Thanh. Tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử ở núi Ốc (Loa Sơn) gần chùa Bộc bây giờ. Trận đánh đã mở đường cho đại quân Tây Sơn từ Ngọc Hồi thừa thắng tiến vào Thăng Long.
    Sau chiến thắng, vua Quang Trung cho thu nhặt xác giặc xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đắp cao thành gò nhằm biểu dương chiến công của quân và dân nước nhà cũng như để cảnh cáo các lực lượng xâm lược.
    12 gò này nằm giải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, trên các gò cây cối mọc um tùm nên có tên là Đống Đa. Năm 1851, do mở đường mở chợ, đào xẻ nhiều nơi thấy nhiều hài cốt, lại cho thu vào một hố cao lên nối liền với núi Xưa, thành gò thứ 13, tức là gò còn lại hiện nay. Còn 12 gò khác đã bị phạt đi trong thời gian người Pháp mở rộng Hà Nội năm 1890.
    Chiến thắng Đống Đa cùng với chiến thắng Ngọc Hồi - Đầm Mực dưới sự chỉ huy của Quang Trung đã phá tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng thành Thăng.
    Hàng năm cứ vào ngày mồng 5 Tết, nhân dân thường tổ chức hội gò Đống Đa để ôn lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra tại nơi đây, đặc biệt có tục rước rồng lửa đã thành lễ hội truyền thống của người Hà Nội.
    28. VƯỜN HOA CHÍ LINH-TƯỢNG ĐÀI LÝ THÁI TỔ

    Địa chỉ: Nằm giữa phố Đinh Tiên Hoàng – Lê Lai – Lê Thạch
    Vườn hoa Chí Linh từng mang tên Vườn hoa Paul Bert (do thực dân Pháp đặt). Tới năm 1945, Đốc lý Hà Nội là ông Trần Văn Lai quyết định thay đổi hoàn toàn các tên phố và vườn hoa từ tên tiếng Pháp bằng các danh nhân Việt. Đốc lý Lai ý thức được khu vườn hoa Chí Linh, Bờ Hồ liên quan đến truyền rùa thần trả gươm cho Lê Lợi. Do vậy, những tuyến phố quanh khu vực này vinh dự được mang danh các vị anh hùng: Nguyễn Xí, Trần Nguyên Hãn, Lê Lai, Đinh Lễ, Đinh Liệt… là các danh tướng của phong trào Lam Sơn.
    Phía Tây tỉnh Thanh Hoá (quê hương của Lê Lợi) có một vùng được gọi theo tiếng dân tộc Thái là Pù Linh (chuyển sang tiếng Việt là Chí Linh). Đây chính là nơi trong thời gian khởi đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi đã mấy lần phải lui quân về lánh nạn. Núi rừng Pù Linh cũng chính là nơi diễn ra vụ Lê Lai đóng giả Lê Lợi. Bởi vậy, Đốc Lai quyết định đổi tên Vườn hoa Paul Bert thành Vườn hoa Chí Linh.
    Tượng đài Lý Thái Tổ đặt tại vườn hoa Chí Linh, nhìn ra hồ Hoàn Kiếm, trung tâm thủ đô Hà Nội; khánh thành ngày 7/10/2004, do nhà điêu khắc Vi Thị Hoa sáng tác, Công ty TNHH Mỹ nghệ Đoàn Kết tỉnh Nam Định thực hiện bằng đồng nguyên chất, đúc liền khối, nặng 32 tấn (tượng 12 tấn, bệ 20 tấn), cao 10,1 m (tượng cao 6,8 m, bệ cao 3,3 m), là một công trình kiến trúc văn hoá đẹp, nhằm tôn vinh vị vua Lý Thái Tổ (974 - 1028), người khởi lập và tạo dựng nên mảnh đất ngàn năm văn hiến, đồng thời là công trình chào mừng 50 năm giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2004), tiến tới kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (1010 - 2010).


    KHU DU LỊCH, SINH THÁI
    1. VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
    Địa chỉ: xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội

    Vườn quốc gia Ba Vì là khu rừng nguyên sinh nằm trên độ cao từ 100 - 1.296m của dãy núi Ba Vì hùng vĩ. Rừng có hệ thực vật nhiệt đới và á nhiệt đới khá điển hình ở Việt Nam, bốn mùa cây cối xanh tươi, khí hậu mát mẻ, trong lành. Hơn thế Vườn quốc gia Ba Vì được mệnh danh là “Lá phổi của thủ đô Hà Nội”. Rừng Ba Vì còn là nơi sinh sống của hàng trăm loài động vật hoang dã, có rất nhiều loài quý, hiếm có tên trong Sách đỏ của Việt Nam.
    Tổng diện tích Vườn quốc gia Ba Vì rộng 11.372 ha. Do địa hình núi cao, độ che phủ của rừng lớn tạo cho vùng Ba Vì có khí hậu rất mát mẻ và trong lành, nhất là vào mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10 dương lịch). Về mùa đông mây mù bao phủ tạo một cảnh quan rất ấn tượng.
    Hệ thực vật khu vực Ba Vì có 862 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi và 114 họ. Theo các nhà khoa học nơi đây có thể tìm thấy rất nhiều loại thực vật nữa để bổ sung vào bảng danh mục của Vườn quốc gia. Có 15 loài cây quý, hiếm như: bách xanh, thông tre, xỉ ba mũi, sến lá bạc, hoa tiên, dương xỉ thân gỗ…
    Khu vực Vườn quốc gia Ba Vì có 55 loài thú, 139 loài chim, 27 loài lưỡng cư, 41 loài bò sát, 552 loài côn trùng. Trong đó có 23 loài quý, hiếm có trong sách đỏ như: cu li lớn, gấu ngựa, tê tê vàng, công, gà lôi trắng…
    Được sự ưu ái của thiên nhiên về địa hình, khí hậu đã tạo cho Vườn quốc gia Ba Vì trở thành 1 trong 4 khu du lịch sinh thái vùng núi cao nổi tiếng (Đà Lạt, Sa Pa, Ba Vì, Tam Đảo). Không những thế vùng núi Ba Vì còn là nơi du lịch tâm linh của người Việt. Hàng năm Vườn quốc gia Ba Vì đón vài chục nghìn lượt người đến tham quan và học tập.
    2. KHOANG XANH – SUỐI TIÊN
    Địa chỉ: xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội

    Khoang Xanh - Suối Tiên là khu du lịch sinh thái tại Ba Vì, Hà Nội. Khoang Xanh nằm ở sườn phía Đông của núi Ba Vì, trong một khu vực có rừng nguyên sinh, cách thủ đô Hà Nội khoảng 50 km về phía Tây Bắc, gần Sơn Tây. Khu du lịch này bao gồm 4 phân khu, trong đó có khoảng 200 ha rừng nguyên sinh và có trên 2 km suối tự nhiên.
    Khoang Xanh - Suối Tiên còn là nơi nói về truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh. Sau khi giúp Sơn Tinh đánh thắng Thuỷ Tinh, công chúa Ngọc Hoa vùng với các tiên nữ thường hay xuống tắm ở suối này. Ngày nay nơi đây còn nhiều dấu tích…
    3. AO VUA
    Địa chỉ: xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội
    Ao Vua chỉ nằm cách Hà Nội khoảng chừng hơn 60km, nơi đây đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn, thu hút hàng trăm ngàn khách tham quan trong và ngoài nước mỗi năm. Khu du lịch sinh thái Ao Vua trải dài dưới chân núi Tản Viên với những câu chuyện đầy huyền tích như câu chuyện Hùng Duệ Vương, công chúa Ngọc Hoa, Thần núi Sơn Tinh, Thần nước Thủy Tinh với cuộc chiến long trời lở đất của hai vị Thần mãi mãi là những truyền thuyết đẹp nhất của người Việt.
    Du lịch Ao Vua đầy hấp dẫn và thú vị với cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng, môi trường sinh thái trong trẻo, không gian đậm chất nhân văn. Hiện khu du lịch Ao Vua đang được đầu tư mở rộng quy mô: vườn chim thú, vườn truyền thuyết cổ tích, vườn tượng châu Âu, trồng thêm những loài cây quý... để hoàn thiện hệ sinh thái rừng. Ðến Ao Vua, du khách sẽ hài lòng vì ngoài việc được du ngoạn, khi về còn có thể mua nhiều loại sản phẩm du lịch, trong đó có những lọ hoa mỹ nghệ làm bằng nguyên liệu tre nứa rất độc đáo.
    4. ĐẦM LONG
    Địa chỉ: xã Bằng Tạ, Sơn Tây, Hà Nội

    Khu du lịch sinh thái Đầm Long nằm ở vị trí trung tâm của quần thể du lịch Ba Vì, nằm trong khu rừng nguyên sinh Bằng Tạ là điểm thu hút du khách đến đây hưởng cuộc sống gần gũi với thiên nhiên. Với diện tích 70 hecta, gồm 50 hecta là mặt nước và 20 hecta là rừng cùng với hệ thực vật rất phong phú và đa dạng với 387 loại thực vật thuộc 252 chi, 94 họ của 4 ngành thực vật bậc cao. Có 240 loài cây thuộc 8 nhóm sử dụng khác nhau, trong đó có rất nhiều cây hàng trăm năm tuổi như: đinh, lim, chò… Phong phú nhất là nhóm cây thuốc nam quý, có tới 76 loài thuốc nam.
    Ngoài hệ thực vật phong phú còn có 69 loài chim, 22 loài bò sát và 69 loài côn trùng khác nhau. Tới đây mọi ồn ào của phố xá như được bỏ lại sau lưng khi du khách được hoà mình vào với thiên nhiên và thoả thích ngắm những dãy núi nhấp nhô xen cùng những cánh rừng già hiện ra trước mắt tạo một khoảng không gian tĩnh lặng trong lành và thoáng đãng.
    5. THIÊN SƠN SUỐI NGÀ
    Địa chỉ: Ba Vì, Hà Nội

    Thiên Sơn - Suối Ngà nằm ở phía Đông dãy núi Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, nơi được người dân gọi là Tản Viên Sơn. Nơi đây gắn liền với truyền thuyết vua Hùng kén rể cho Mị Nương công chúa, và đã diễn ra cuộc đọ sức đua tài giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.
    Đến Tản Viên Sơn, bạn sẽ thoả sức tận hưởng cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ và thư giãn trong bầu không khí trong lành của núi rừng trùng điệp đã có từ bao đời nay.
    Điểm du lịch này được chia ra làm 3 khu chính: hồ Hạ Sơn, Vọng Lâu; khu biệt thự trên cao; thác Cổng Trời với các dịch vụ leo núi, tắm hồ, lội suối…
    6. SUỐI NGỌC - VUA BÀ
    Địa chỉ: xã Tiến Quân, Quốc Oai, Hà Nội

    Chỉ cách thủ đô Hà Nội hơn 30 km về phía Nam, du khách có thể thực hiện chuyến tham quan và nghỉ ngơi tại thắng cảnh Suối Ngọc - Vua Bà.
    Tại đây, khách có thể đi bộ, leo núi, cưỡi ngựa và chiêm ngưỡng những thác, ghềnh tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau, đặc biệt có thác 9 tầng cao 100 m nước đổ ào ào trắng xoá suốt ngày đêm. Những vũng tắm dưới chân thác với làn nước trong xanh, tinh khiết của 3 con suối đầu nguồn là sự ban tặng hào hiệp của thiên nhiên cho con người. Bên những dòng suối là 2 khu vui chơi nước có 18 làn trượt luôn phục vụ những du khách thích cảm giác mạnh.
    Bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước những kiểu dáng của nhà sàn Mường, nhà sàn Tày. Dưới tán cây bên dòng suối thấp thoáng bóng nhà sàn nhỏ xinh để du khách nghỉ chân khi về đây thưởng ngoạn. Nếu muốn bạn có thể tham dự các trò chơi dân gian như bắn cung, bắn nỏ, ném còn, đi cà kheo, múa hát cồng chiêng, đêm lửa trại. Du khách cũng sẽ được thưởng thức các món ăn dân tộc phong phú như cơm lam, rượu cần, thịt gà nướng, lợn sữa nướng và các món ăn độc đáo của miền rừng núi.
    Suối Ngọc - Vua Bà còn là khu căn cứ kháng chiến, nơi luyện quân của Hai Bà Trưng trong những năm đầu của thế kỷ thứ nhất.
    7. ĐỒNG MÔ
    Địa chỉ: Đồng Mô là một khu du lịch thuộc địa phận thị xã Sơn Tây và một phần huyện Ba Vì, Hà Nội.
    Khu du lịch Đồng Mô bao gồm một hồ chứa nước rộng khoảng 200 ha, nằm trong vùng chân núi Ba Vì, các khu nghỉ dưỡng nằm rải rác trên các hòn đảo trên hồ. Khách du lịch tới đây được đi tham quan lòng hồ, ngắm cảnh núi non hùng vỹ, sơn thủy hữu tình và các dịch vụ câu cá, ẩm thực theo phong cách dân tộc. Đặc biệt trong khu du lịch Đồng Mô có một sân golf nổi tiếng: Sân golf Đồng Mô - 36 lỗ nằm trên các đảo ở giữa hồ Đồng Mô, thuộc địa phận thị xã Sơn Tây.
    Theo truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh, khu vực lòng hồ Đồng Mô hiện nay là nơi đại thủy chiến giữa Sơn Tinh (thần núi Tản Viên) và Thủy Tinh (thần nước) để giành giật công chúa Mị Nương. Trong trận chiến đó, Thủy Tinh dâng nước cùng với các loài thủy tộc lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh làm phép dâng núi lên cao, nước dâng đến đâu, núi cao đến đó, cuối cùng Thủy Tinh chịu bại trận. Vì thế nên đỉnh núi Ba Vì đến nay cao hơn 1.000m, trên đỉnh núi vẫn còn đền
    Đều là du lịch sinh thái nhưng Đồng Mô có ưu thế riêng mà không nơi nào có được, đó là diện tích mặt hồ Đồng Mô rộng lớn và đảo Phượng. Có lẽ vì vậy mà những người làm du lịch ở đây đã tập trung vào khai thác thế mạnh này. Khu du lịch được chia làm 3 khu nhỏ với những đặc sản du lịch khác nhau, tạo thành tour du lịch khép kín mà ở đó hội tụ đủ 3 yếu tố khiến những người yêu thiên nhiên ưa thích: nghỉ ngơi thư giãn, giải trí và thưởng thức ẩm thực.
    8. THÁC ĐA
    Địa chỉ: Ba Vì, Hà Nội
    Nằm trong quần thể du lịch nổi tiếng Ao Vua, Suối Mơ, Suối Hai, Thác Đa trải rộng 100 ha sát chân núi Ba Vì với khung cảnh thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, mang dấu ấn lịch sử cũng như những nét văn hóa truyền thống.
    Ra khỏi địa phận Hà Nội 60 km về phía Tây, đến Thác Đa, du khách sẽ cảm thấy như đang sống giữa những bộ tộc của người Việt cổ. Khu trung tâm rộng khoảng 100 m2, là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian và hiện đại như chèo, quan họ, ca múa nhạc tổng hợp... Quanh đó là những nhà nghỉ theo mô hình nhà sàn truyền thống của dân tộc Mường, Thái len lỏi giữa rừng cây ven núi.
    Nét đẹp nhất của Thác Đa là con suối chảy từ trên núi xuống tung bọt trắng xóa như một dải lụa bạc khổng lồ nổi bật giữa màu xanh của núi rừng. Những quán bar thiết kế kiểu nhà sàn cũng hết sức độc đáo. Ở khu 2 có bể bơi, hồ câu cá, sân thể thao, vườn trái cây, các món ăn dân tộc… hòa thành một ấn tượng không dễ phai mờ./.
    Khách viếng thăm hãy cùng Sơn_cu xây dựng diễn đàn bạn nhé

  3. #3
    Quản Trị Sơn_cu's Avatar
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    133
    Thanks
    159
    Thanked 380 Times in 99 Posts
    1. HÀ NỘI với chiều dài nghìn năm lịch sử văn hiến chứa đựng trong đó biết bao nhiêu huyền thoại. Trong đó có biết bao danh lam thắng cảnh thể hiện một nét văn hóa của HÀ NỘI thủ đô thân yêu của dân tộc. Hôm nay trunghieu_vb xin mời mọi người cùng tham quan thủ đô yêu dấu của chúng ta


      Ngọc Sơn, Tháp Bút, Đài Nghiên

      Tháp Bút - cũng như Đài Nghiên - mới có từ năm Ất Sửu (1865). Nhưng đền Ngọc Sơn đã có từ mùa thu năm Nhâm Dần (1842).
      Tấm bia nhan đề Ngọc Sơn đế quân từ ký (Bài ký đền Ngọc Sơn đế quân) do Vũ Tông Phan soạn năm Quý Mão (1843), hiện còn trong đền, mách rằng: Đời Lê sơ, đây là nơi các vua thường ra câu cá, có xây một cái đài gọi là Điếu đài (đài câu). Sau đó, tại đây người ta dựng ngôi đền thờ Quan Đế (tức Quan Vũ, tướng đời Thục Hán, nổi tiếng là trung nghĩa). Sang đời Nguyễn Gia Long, ông Tín Trai người làng Nhị Khê mở rộng ngôi đền Quan Đế thành chùa Ngọc Sơn (Ngọc Sơn tự), trước chùa xây một gác chuông. Đến khoảng Nguyễn Thiệu Trị, các con ông Tín Trai nhượng chùa này cho hội Hướng Thiện (một hội do các nhà nho lập ra, vốn thờ thần Văn Xương là thần coi về văn chương thi cử). Hội này liền bỏ gác chuông, xây ở chỗ đó một nếp đền thờ Văn Xương. Công việc xây dựng bắt đầu từ mùa đông Tân Sửu (1841) đến mùa thu Nhâm Dần (1842) thì hoàn thành và đổi chùa ra đền tức Ngọc Sơn từ.
      Hai mươi ba năm sau, vào năm Ất Sửu (1865) án sát đương nhiệm ở tỉnh Hà Nội là Đặng Huy Tá cùng án sát về hưu là Nguyễn Văn Siêu đứng ra trùng tu lại ngôi đền. Lần này, ngoài việc sửa chữa các nếp đền có việc xây dựng thêm Trấn Ba đình, Đài Nghiên và Tháp Bút và đặt tên cho cây cầu nối bờ Đông với đền là Thê Húc.
      Như vậy là Tháp Bút, Đài Nghiên tính đến năm 2006 là 141 tuổi. Tháp Bút, theo ý tưởng của những người thiết kế là "tượng trưng cho nền văn vật". Điều này được nói trong bài Ký khắc trên bia "Trùng tu Văn Xương miếu ký" (Bài trùng tu sửa miếu Văn Xương) do Đặng Huy Tá soạn khi công việc xây dựng hoàn thành (năm 1865) hiện cũng vẫn còn bản dập trong đền. Tượng trưng cho nền văn vật ! Vậy văn vật là gì? Văn vật theo định nghĩa của sách Từ nguyên là "Vị lễ nhạc điển chương dã" có nghĩa nói về lễ nhạc và điển chương. Như vậy văn vật là văn hóa và chính trị.
      Tháp dựng trên ngọn núi do đá xếp, đường kính 12m, cao 4m. Tháp vuông có năm tầng, cao cả thảy 28m. Đỉnh là một ngòi bút dựng ngược. Cả cán và ngòi cao 0,9m. Trên thân ba tầng giữa có khắc theo chiều dọc ba chữ Tả Thanh Thiên có nghĩa và Viết (lên) trời xanh. Đã có nhiều người giải thích ý nghĩa của ba chữ này: nào là giãi bày tấm lòng với trời xanh, nào là cảm hứng đầy tráng khí, nào là tâm hồn rộng mở bao la v.v... thậm chí trong một thời điểm bị ảnh hưởng của thời sự có người trong một bài báo lại giải thích chữ Tả phải hiểu là chữ Đả (?!) và ba chữ Tả thanh thiên chính là bốn chữ Đả Thanh thiên tử tức Đánh vua nhà Thanh (!!).
      Thực ra cụm kiến trúc Tháp Bút vừa biểu dương văn chương đồng thời lại biểu dương võ công. Nhưng không phải là kêu gọi đả Thanh thiên tử (!) mà là võ công của chúa Trịnh trong việc dẹp cuộc khởi nghĩa của quận Hẻo Nguyễn Danh Phương. Đây mới là ngụ ý của các người thiết kế, vì ta thấy Tháp Bút dựng trên một cái gò chất đầy đá hộc. Gò này tượng trưng cho 1 ngọn núi (theo thuật phong thủy cổ, cao nhất thốn giả vi sơn tức là chỉ cần cao một tấc thì cũng là núi rồi). Núi đó có tên là Độc Tôn. Nhiều tài liệu nói đây là núi Đào Tai hoặc Ngọc Bội là không đúng. Điều trên đã được nói rõ trong bài Bút Tháp chí do Nguyễn Văn Siêu soạn năm 1865 được khắc ngay trên thân tháp ở tầng thứ ba mặt nhìn về hướng nam. Dưới đây là lời dịch bài chí đó: "Trên đỉnh núi Độc Tôn có Tháp Bút năm tầng. Tháp nhờ núi mà cao thêm, núi nhờ tháp mà truyền mãi. Khoảng Lê Vĩnh Hựu (1735-1739) nghịch Phương (tức Nguyễn Danh Phương - N.V.P) lén chiếm núi Độc Tôn ở huyện Phổ Yên xứ Thái Nguyên, Vương sư (chúa Trịnh Doanh) đi đánh dẹp, đóng quân ở núi Ngọc Bội, liên tiếp phá giặc. Ngày khải hoàn, nhân gò đất cao, đắp núi để ghi công, đặt tên là núi Độc Tôn. Sau cuộc chính biến (thay đổi Lê - Trịnh - Tây Sơn - Nguyễn. N.V.P) núi bị gai góc phủ đầy. Trong hồ có miếu Văn Xương. Vào dịp trùng tu miếu, ngó sang bờ Đông, thấy có núi, bèn phát cỏ dọn cây, xây tháp Bút, đối diện với đài Nghiên. Ấy núi là biểu tượng của chiến công mà tháp là biểu tượng của văn hóa. Cả hai cái đó dựa vào nhau mà tồn tại".
      Tên của núi và ý nghĩa dựng tháp như vậy là đã rõ. Có lẽ cũng nên ghi nhớ thêm là cùng lúc đắp núi Độc Tôn ở bờ Đông hồ thì chúa Trịnh còn cho đắp núi Ngọc Bội bên bờ Tây hồ (Ngọc Bội ở trên Phổ Yên là ngọn núi mà nhà Trịnh đóng quân, còn Độc Tôn là doanh trại của Nguyễn Danh Phương). Cạnh núi có cung Khánh Thụy. Sang đời Lê Chiêu Thống đã cho đốt cung này, song tên thì còn lưu lại ở 2 ngôi làng ở 2 bên cung là Tả Khánh Thụy và Hữu Khánh Thụy. Sang đời Nguyễn 2 làng này nhập vào làng Báo Thiên thành làng Báo Khánh. Nay còn phố Báo Khánh là di tích. Trở lại Tháp Bút, đã có bút thì phải có nghiên. Cho nên ở đầu cầu Thê Húc là Đài Nghiên. Nghiên được đặt trên tòa cửa đầu tiên dẫn vào đền. Đó là một cái nghiên mực bằng đá xanh đẽo tạc theo hình nửa quả đào, cắt ngang theo chiều dọc, khoét lõm. Bề dài quả đào 0,97m, bề ngang 0,8m, cao 0,3m, chu vi 2m, có ba con thiềm thừ (con cóc) đội nghiên như ba cái chân kiềng. Đặc biệt trên thân của nghiên có khắc một bài minh mà tác giả lại cũng là Nguyễn Văn Siêu. Chỉ có 64 chữ (Hán) nhưng ý tứ thật hàm súc. Có nhiều cách hiểu và tới nay có nhiều bản dịch khác nhau. Dưới đây chúng tôi tạm dịch như sau: "Xưa lấy hốc đất làm nghiên, chú giải Đạo Đức kinh, nghiền ngẫm bên nghiên lớn, viết sách Hán Xuân Thu. Từ đá tách ra làm nghiên, chẳng có hình dáng. Không vuông không tròn, dùng vào mọi việc thật kỳ diệu. Không cao không thấp, ngôi ở chính giữa. Cúi soi hồ Hoàn Kiếm, ngửa trông ngọn Bút đá. ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi. Ngậm nguyên khí mà mài hư không".
      Có thể đây là một quan niệm có tính chất bản thể luận về cái nghiên mực và cũng là về tư tưởng của con người ta. Văn của Thần Siêu hàm súc là vậy.
      Cuối cùng, cũng xin nêu về một ý kiến đã từng nêu ra cũng trong một bài báo cách đây trên hai chục năm mà một số người ngày nay vẫn muốn lặp lại. Đó là ý kiến cho rằng các cụ ta xưa giỏi lắm, thâm thúy lắm, khi xây Tháp Bút, Đài Nghiên: Cứ sáng ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch khi mặt trời mọc thì bóng của ngòi bút chấm đúng vào lòng Nghiên mực! Thật hoang đường! Trong thực tế, không bao giờ có sự kiện thiên văn ấy. Vì mặt trời chuyển động trên vòm trời, tức là chuyển động biểu kiến, được 1 vòng mất 365,2422 ngày. Một năm Dương có 365 hoặc 366 ngày, tùy theo năm đó là năm nhuận hay không nhuận. Một năm lịch Âm, nếu là năm thường có 354 ngày hay 355 ngày; còn nếu là năm nhuận thì có 383 hay 384 ngày. Nếu như lúc mặt trời mọc, đỉnh ngọn Bút Tháp mà chấm đúng vào giữa lòng nghiên mực vào một ngày nào đó, thì phải đúng một năm Dương sau, hiện tượng đó mới lặp lại, và một năm sau nữa mới lại như vậy. Cái nghiên mực cũng rộng, nên việc đó có thể lệch đi một hay hai ngày, nhưng không thể lệch đi 1 tháng. Bởi thế, việc đó nếu xảy ra vào một ngày cố định trong năm thì chỉ có thể theo lịch Dương vì độ dài các năm khác nhau 1 ngày, không thể theo lịch Âm vì độ dài các năm có thể khác nhau đến 1 tháng (29 hay 30 ngày). Và như vậy không thể nào có hiện tượng cứ mùng 5 tháng 5 lịch Âm mặt trời lại chiếu dọi đỉnh ngọn Bút Tháp vào đúng lòng nghiên đá được. Cho nên chỉ có thể coi đây là chuyện "nói trạng" mà thôi.


      Văn miếu - Quốc tử giám
      (Hà Nội ngày nay), ở ngay phía sau Văn Miếu.

      Trường đại học đầu tiên của Việt Nam
      Quốc Tử Giám là tên gọi vào thời Lý (1010-1225), đến thời Trần (1225-1400) gọi là Quốc Tử Viện sau đổi thành Quốc Học Viện. Sang thời Lê (1428-1788) trường mang tên Thái Học Viện, nhà trường lúc này được mở rộng, có quy mô học đường, có ký túc xá, lại là nơi trực tiếp in sách. Vào thời Nguyễn (1802-1945), Quốc Tử Giám cũng như kinh đô đều chuyển vào Huế nhưng Văn Miếu Hà Nội vẫn tồn tại cho tới ngày nay.
      Quốc Tử Giám là trung tâm văn hóa giáo dục lớn của cả nước. Ban đầu, đây là nơi học của hoàng tử và con em tầng lớp quý tộc, nhưng về sau mở cửa đón tiếp nhân tài trong cả nước đến học tập và rèn luyện. Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam từng làm Quốc Tử Giám Tư Nghiệp (hiệu trưởng) của trường.

      Bàn thờ Chu Văn An


      "Tôi ngạc nhiên giật mình khi thǎm Quốc Tử Giám và xem xét kỹ thấy trường đại học này thành lập từ thế kỷ 11. Trước đây trên thế giới, Université de Paris được cho là trường đại học cổ nhất, tuy nhiên đại học này chỉ được lập ra từ năm 1200". Nhà nghiên cứu khoa học Pháp A. Boniface nói với tôi như vậy trong một lần gặp ngẫu nhiên khi ông đang đọc một trong số 82 bia đá còn tôi thì chụp ảnh ở Quốc Tử Giám. Có chân trong ban biên tập nhiều bách khoa toàn thư, là tác giả nhiều nghiên cứu về vǎn hoá phương Đông và đọc thông chữ Nôm chữ Hán, ông trần lực ra "điều tra lai lịch của trường đại học lâu đời nhất thế giới này". Ông muốn đến đích chân lý hay xem có gì sai khi có một ĐH ở một nước phương đông lại có sớm hơn Université de Pari đến 124 nǎm. Mà có lẽ cả hai lý do.

      Nhà bia Tiến sĩ


      Ông xin lục tìm tra cứu và chỉ thật sự bị thuyết phục khi các ghi chép của ông bằng vi tính quá đầy, khi các vật chứng - thứ bằng gỗ, cái bằng gốm, vật bằng đá, ngồn ngộn hiện ra trong ảnh ông chụp. Quả nhiên chính vua Lý Thánh Tông đã cho dựng Vǎn Miếu vào tháng 8 nǎm Canh Tuất (tức tháng 10-1070). Lúc đầu đây là nơi biểu dương Nho giáo và đạo học nói chung. 6 nǎm sau vua Lý cho xây nhà Quốc Tử Giám ở sau Vǎn Miếu tức là trường ĐH đầu tiên của nước ta. Ban đầu là nơi học của các hoàng tử, đến đời Trần đổi tên là Viện Quốc học, dạy con em quan lại trong triều và dần mở rộng ra nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Đời Lê gọi là nhà Thái Học.
      Học hành và khoa cử thời xưa
      Việc học và thi cử thời xưa có nhiều qui định, nội dung chặt chẽ. Từ 6, 7 tuổi trẻ bắt đầu học sách Sơ học: Tam tự kinh, Ngũ tự kinh, Ngũ ngôn và tập làm vǎn câu đối 2 chữ, 4 chữ. Chừng 10 tuổi trở lên học Ngũ kinh, lịch sử Trung quốc, Việt Nam, tập làm vǎn câu đối 7, 8 chữ. Ngoài người hoàng tộc và con quan lại, nhà vua còn chọn những người tuấn tú cho vào học ở các trường trong kinh và Quốc Tử Giám. Sau một thời gian học lầu thông kinh sử, học sinh dự kỳ thi, đầu tiên là thi hương tức là kỳ thi của một tỉnh hoặc liên tỉnh để chọn người vào các kỳ thi sau tại kinh đô gọi là thi Hội, thi Đình. Thi hội là kỳ thi quốc gia dành cho những người đã kinh qua thi Hương và các giám sinh đã mãn khoá Quốc Tử Giám. Thi Hội và thi Đình là cuộc kiểm tra đánh giá cao nhất đối với các bậc tài nǎng của đất nước nên còn được mệnh danh là Đại tỷ, Đại khoa. Thi hội dần dà gồm 4 kỳ, người đỗ cả 4 kỳ được cấp bằng tiến sĩ. Thi Đình còn gọi là Điện thí tức là thi tại sân vua, vua thân hỏi bài. Thi Đình chỉ để xếp loại các tiến sĩ đã đỗ ở kỳ thi hội. Khoa thi tiến sĩ mở đầu vào nǎm Ất Mão (1075) đời Lý Nhân Tông và khoa cuối cùng vào nǎm Kỷ Mùi (1919) đời Nguyễn Khải Định.
      Thi Hội và thi Đình diễn ra trong khoảng 8 tháng: mùa xuân thi Hội đến mùa thu nǎm ấy thi Đình. Một vài khoa đầu nhà Lý cho thi ám tả ở kỳ thứ nhất. Về sau, ở kỳ thứ nhất cho thí sinh làm kinh nghĩa và kinh truyện; mỗi thứ một bài, mỗi bài từ 1000 chữ trở lên.
      Lối thi này đến nhà Hồ lại có thêm kỳ thứ nǎm hỏi về toán. Dần dà theo Lê Quý Đôn triều đình quy định mức điểm cho mỗi kỳ thi. Nguyên tắc chung là mỗi kỳ thi phải qua 2 lần chấm sơ khảo và phúc khảo. Đủ điểm kỳ thi thứ nhất mới được thi kỳ 2 rồi kỳ thứ 3 thứ 4 cũng theo luật đó.
      Các tiến sĩ được hưởng quyền vinh quy bái tổ.
      Trong một số khoa thi buổi đầu, số thí sinh còn ít ỏi nên việc thi được tổ chức ở ngay trường Quốc Tử Giám.
      Kiến trúc

      Vǎn Miếu Môn


      Ngày trước học sinh, thí sinh hoặc đi bộ hoặc cưỡi ngựa, đi kiệu đều cảm thấy vinh dự hãnh diện khi đến khu Vǎn Miếu - Quốc Tử Giám. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính được thiết kế rất đồ sộ theo kiểu tam quan trên có chữ Vǎn Miếu Môn. Cửa giữa dành cho vua, quan lại hoặc các bậc thầy đến giảng sách. Chính bước chân của nhà sư phạm Chu Vǎn An, một vị quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám cương trực đã nhiều lần qua lại đây. Sau Vǎn Miếu Môn mở ra một khu rộng chính là nơi các thí sinh ngày trước cắm lều ngồi thi. Một lối đi xây bằng gạch ở giữa xuyên thẳng từ cửa đến nhà thờ biểu tượng sự thống đạt chính trực của đạo học.

      Chính đạo


      Với con mắt tinh tường của nhà nghiên cứu, Boniface đã hỏi tôi:
      Hình như hai bên cái bể thả hoa súng mới được xây sau này, giống như mái các nhà bia thì phải?
      Đúng như vậy.

      Đại Trung Môn


      Ông tỏ ra tiếc vì nó biến lệch cái cảm quan nơi học thi thành vườn hoa.
      Đi tiếp, đường giữa dẫn ta đến cổng "Đại Trung Môn" mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên có hai cổng nhỏ có ghi chữ mục tiêu lời chúc học hành "Thành Đức", "Đại tài". Một công trình đẹp, cao như gác hai tầng phía trên được chạm trổ bằng gỗ đã hiện ra phía sau. Đó là Khuê Vǎn Các, gác vẻ đẹp của sao Khuê, ngôi sao biểu tượng về vǎn học. Công trình này được xây dựng vào đầu thế kỷ 19.

      Khuê Văn Các


      Khu thứ 3 là từ gác Khuê Vǎn tới một cổng xây cao to hơn cổng trước, trên có hàng chữ Đại Thành Môn. Cái đẹp trong kiến trúc cổ của cha ông ta xưa cũng thể hiện ở đây: trước một khu thờ kính cẩn đền, đình có một hồ bán nguyệt.
      Giữa khu thứ 3 có một hồ vuông mang tên rất đẹp: Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng). Mặt nước có tường hoa bao quanh in bóng gác Vǎn và cây xanh lung linh, tạo cho người học ngày trước và khách tham quan ngày nay một cảm giác trong sáng, thư thái.

      Thiên Quang Tỉnh


      Hai bên hồ là 2 khu nhà bia với những bia đá lớn cao bằng người, đặt trên những chú rùa bằng đá khổng lồ. Có tất cả 82 bia ghi tên các vị tiến sĩ đã đỗ trong 82 khoa thi. Trân trọng, tỉ mẩn đọc ta có thể thấy tên một số nhà chính trị, vǎn học, sử học nổi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Nhậm, Lê Quí Đôn, nhà toán học Lương Thế Vinh, ông tổ nghề in Lương Nhữ Hộc. Từ các nhà Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Hậu Lê đến Nguyễn, tổng cộng 185 khoa thi có 2906 lần người đỗ, trong đó có 56 trạng nguyên.
      Dù gội qua nhiều mưa nắng, tên của những người đỗ tiến sĩ vẫn hiện rõ trên nền đá bia. Vừa lần đọc, Boniface chợt đặt một câu hỏi:

      Bia tiến sĩ


      Tôi có cảm giác tên của một vài tiến sĩ bị đục khỏi bia chứ không phải do đá bị nứt hỏng.
      Nhận xét của ông rất đúng. Theo quy định của các triều vua nếu người nào đã được ghi danh bia đá mà khi phạm các tội tham nhũng bất trung, bất hiếu mà luật xưa gọi hình ảnh là "vì béo mình gầy người" thì tên đều có thể bị đục đi.

      Sân giữa và nhà hữu vu


      Bước qua Đại Thành Môn một khung cảnh khoáng đạt ấn tượng mở ra từ khoảng sân giữa rất rộng lát gạch bát. Hai bên là 2 dãy nhà tả vu, hữu vu vốn dùng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà đại bái và hậu cung. Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái treo "Bích Ung đại chuông" (chuông lớn của nhà Giám), bên phải có một chiếc khánh đá. Chuông Bích Ung do Nguyễn Nghiễm đứng ra đúc nǎm 1768. Tấm khánh mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ nói về công dụng loại nhạc khí này.
      Sau khu đại bái chính là trường Giám cũ. Những triều đại coi "Thức giả là nguyên khí của quốc gia" đã tuyển chọn nhiều người tài giỏi, đỗ đạt cao, bổ xung vào các chức Thị độc, Thị giảng, Hữu tư giảng, Tả tư giảng, Thiếu phó, Thiếu bảo để chǎm lo việc giảng dạy, giải đáp, vừa giúp vua nâng cao tri thức mọi mặt. Nhiều "người thầy một đời, muôn đời" như Bùi Quốc Khải, Nguyễn Trù, Chu Vǎn An... đã từng vang tiếng giảng ở Quốc Tử Giám.

      Gác chuông lớn


      Khi nhà Nguyễn dời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đền Khải Thánh. Nǎm 1946-1947 giặc Pháp đã đốt trụi khu này.
      TP Hà Nội ngày nay đã thành lập tại đây “Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám” để phát huy truyền thống của di tích văn hóa lâu đời này. Trả lời câu hỏi về số khách đến Vǎn Miếu, giám đốc Nguyễn Quang Lộc cho biết:
      Với kiến trúc độc đáo và tiếng tǎm, Vǎn Miếu - Quốc Tử Giám đã ngày càng thu hút nhiều khách tham quan, nghiên cứu. Nǎm 1995 có 142.000 lượt người trong đó có 82.000 khách nước ngoài. Nǎm 1996 đã tǎng lên 172.000 và 80.000, dự kiến nǎm 1997 sẽ lên 200.000 khách. Khả nǎng mỗi nǎm thu được 1 tỷ đồng. Đặc biệt tại đây có nhiều hoạt động vǎn hoá giáo dục mới, đó là các hội thảo khoa học, kỉ niệm danh nhân vǎn hoá, lễ hội vǎn hoá dân gian, tổ chức lễ tốt nghiệp v.v.
      Nghe nói nhà nước và thành phố có một kế hoạch tôn tạo xây dựng khá lớn khu di tích Vǎn Miếu?
      Từ 1991-1996 Bộ Vǎn hoá và UBND thành phố đã đầu tư 7 tỉ đồng để tôn tạo tường bao, điện Đại Thành, hệ thống đường đi, thoát nước, làm mái 8 nhà bia - GĐ Nguyên Quang Lộc nói. Từ nay đến nǎm 2000 sẽ dựng lại khu Thái học, dự chi 17 tỉ đồng. Hồ Vǎn phía trước đang bị lấn chiếm sẽ được giải toả, cạp lại bờ. Chắc tới đó khu di tích sẽ có lại diện mạo của một trong những đại học ra đời sớm nhất thế giới, một địa điểm tham quan nổi tiếng, một trung tâm hoạt động vǎn hoá - khoa học tầm cỡ.

      ........còn nữa.........,

      thay đổi nội dung bởi: trunghieu_vb, 09-02-2009 lúc 07:16 PM

      Trả lời với trích dẫn
    2. Thành viên cảm ơn trunghieu_vb vì bài viết có giá trị:

      vk03
    3. 09-02-2009 07:23 PM #2
      trunghieu_vb
      Cộng Tác Viên Thành Tựu:




      Tham gia ngàyJun 2008Bài gửi1,239VKD11,816Cấp bậc26Cảm ơn993Được cảm ơn 523 lần/291 bàiBlog Entries26





      Chúng ta cùng tiếp tục cuộc hành trình du lịch HÀ NỘI. Địa điểm hôm nay sẽ là

      Chùa Một Cột (Hà Nội)
      Diên Hựu tự



      Chùa Một Cột hay Chùa Mật (gọi theo Hán-Việt là Nhất Trụ tháp 一柱塔), còn có tên khác là Diên Hựu (延祐) hoặc Liên Hoa Đài (蓮花臺, "đài hoa sen"), là một ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Đây có lẽ là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam.


      Chùa được xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049.
      Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Truyền thuyết kể lại rằng chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, nhà vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu.
      Hằng năm cứ đến ngày 8 tháng 4 Âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội.
      Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng. Năm 1108, Nguyên phi Ỷ Lan sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời). Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn công trình lớn của Việt Nam thời đó - là: tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm. "Giác thế chung" đúc xong nặng quá không treo lên được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu. Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có tên Quy Điền chung (chuông ruộng rùa). Đến thế kỷ 15, giặc Minh xâm lược, chiếm thành Đông Quan (Hà Nội). Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh, vây thành rất gấp. Quân Minh thiếu vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn đem phá chuông Quy Điền lấy đồng. Quân Minh thua, nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa.
      Văn bia tháp Sùng thiện diên linh (chùa Đọi, Hà Nam), năm 1121 viết: "Do lòng sùng kính đức Phật và dốc lòng mộ đạo nhân quả (đạo Phật) nên hướng về vườn Tây Cấm nổi danh (Ngôi vườn ở phía tây cấm thành Thăng Long đời Lý) mà xây ngôi chùa sáng Diên Hựu theo dấu vết chế độ cũ, cùng với ý mưu mới của nhà vua (ý nói: theo dấu vết lề lối xây dựng chùa đời Lý Thánh Tông, có thêm ý mới của Lý Nhân Tông mà chữa lại chùa đẹp hơn trước)".
      Đến thời nhà Trần, chùa đã không phải là ngôi chùa đời nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi: Năm 1249, "...mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ...".
      Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955 do kiến-trúc-sư Nguyễn Bá Lăng đảm-nhiệm.
      Thiền sư Huyền Quang (1254-1334) có một bài thơ về chùa Một Cột như sau:
      延祐寺
      上方秋夜一鐘闌 (蘭)
      月色如波楓樹丹
      鴟吻倒眠方鏡冷
      塔光雙峙玉尖寒
      萬緣不擾城遮俗
      半點無憂眼放寬
      參透是非平等相
      魔宮佛國好生觀
      Diên Hựu tự
      Thượng phương thu dạ nhất chung lan
      Nguyệt sắc như ba phong thụ đan
      Si vẫn đảo miên phương kính lãnh
      Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn
      Vạn duyên bất nhiễu thành giá tục
      Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan
      Tham thấu thị phi bình đẳng tướng
      Ma cung Phật quốc hảo sinh quan
      Nguyễn Huệ Chi dịch:
      Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn
      Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan
      In ngược hình chim, gương nước lạnh
      Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn.
      Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục
      Một mảy nào lo: rộng nhãn quan
      Thấu hiểu thị phi đều thế cả
      Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn?
      Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan, với ba chữ "Diên hựu tự", là ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột, xây khoảng đầu thế kỷ 18.
      Theo tài liệu lịch sử, lối kiến trúc một cột có từ trước đời nhà Lý. Ở Hoa Lư, Ninh Bình trong ngôi chùa con gái vua Đinh Tiên Hoàng, có một cây cột đá cao, sáu cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005). Phía trên cột là tòa sen chạm. Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xây điện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột sáu cạnh hình bông sen. Như vậy, trước khi xây chùa Một Cột, lối kiến trúc đó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền. Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay. Thực dân Pháp trước khi rút khỏi Hà Nội đã cho nổ mìn phá chùa. Tuy nhiên, chùa đã được trùng tu cơ bản như trước. Chùa Một Cột hiện nay bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3 m, mái cong, dựng trên cột cao 4 m (không kể phần chìm dưới đất), đường kính 1,20 m có cột đá là 2 khúc chồng lên nhau thành một khối. Tầng trên của cột là hệ thống những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên. Đài Liên Hoa có mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều nguyệt. Ngày nay không có những cánh sen trên cột đá như đã nói đến trong bia văn thời nhà Lý, nhưng ngôi chùa dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước vẫn là kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng một bông sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Kiến trúc chùa xây dựng gần với kiến trúc nhà Hậu Lê.
      Trong vườn chùa hiện có một cây bồ đề sum xuê từ đất Phật, do tổng thống Rajendra Prasad tặng nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh qua thăm Ấn Độ năm 1958.



      Tiếp theo là

      Chùa Láng (Hà Nội)
      Chiêu Thiền tự


      Chùa Láng (hay Chiêu Thiền tự 昭禪寺) là một ngôi chùa ở làng Láng, Yên Lãng, quận Đống Đa, Hà Nội. Tên chùa có ý nghĩa rằng: "Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu, nơi sinh ra Thiền sư Đại Thánh nên gọi là Thiền"

      Nhà bát giác (Bát chính đạo)

      Chùa tương truyền được xây dựng từ thời vua Lý Anh Tông (trị vì từ 1138 đến 1175). Chùa thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Theo truyền thuyết, nhà sư này đã đầu thai làm con trai Sùng Hiền hầu, em vua Lý Nhân Tông. Vua Lý Nhân Tông (trị vì từ 1072 đến 1127) không có con, nên con trai của ông Sùng Hiền hầu được nối ngôi, tức vua Lý Thần Tông (trị vì từ 1128 đến 1138). Con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông đã cho xây cất chùa Chiêu Thiền để thờ vua cha và tiền thân của cha là thiền sư Từ Đạo Hạnh.
      Hội chùa Láng cử hành vào ngày mồng bảy tháng ba Âm lịch, là ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong ngày hội, kiệu của Từ Đạo Hạnh được rước đến chùa Hoa Lăng ở xã Dịch Vọng, nơi thờ bố mẹ ông.

      Cổng chùa Láng


      Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,
      Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.

      Kiến trúc

      Cổng chùa bao gồm bốn cột vuông với ba mái cong không chùm lên cột mà gắn vào sườn cột, mái giữa cao hơn hai mái bên, hơi giống kiến trúc cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa. Qua cổng là một sân gạch Bát Tràng, giữa sân là chiếc sập đá, nơi đặt kiệu trong các ngày lễ hội. Cuối sân có cửa tam quan. Từ đây có con đường lát gạch dẫn đến cổng thứ ba. Qua cổng này ở giữa có ngôi nhà bát giác nơi đặt tượng Từ Đạo Hạnh. Qua nhà bát giác này mới đến các công trình chính trong chùa : bái đường, nhà thiêu hương, thượng điện, các dãy hành lang, nhà tổ và tăng phòng... Động thập điện Diêm Vương ở hai dãy hành lang khá đẹp, miêu tả những hình phạt ở các tầng địa ngục.

      Hậu cung Chùa Láng


      Ngoài các tượng Phật ở thượng điện, trong hậu cung còn có tượng nhà sư Từ Đạo Hạnh và tượng vua Lý Thần Tông. Tượng Từ Đạo Hạnh làm bằng mây đan phủ sơn còn tượng Lý Thần Tông làm bằng gỗ mít.
      Chùa đã được trùng tu nhiều lần, những lần quan trọng nhất là vào các năm 1656, 1901 và 1989. Vì được trùng tu nhiều lần, trong chùa chỉ còn ít dấu tích của các di vật cổ. Tấm bia cổ nhất còn lại ở đây được dựng năm Thịnh Đức thứ 4 (1656). Văn bia do tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc viết.
      Vẻ bề thế của quần thể kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng, cổ thụ xum xuê, khiến cho chùa Láng đã từng được coi là đệ nhất tùng lâm ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa.
    Khách viếng thăm hãy cùng Sơn_cu xây dựng diễn đàn bạn nhé

 

 

Chủ đề tương tự

  1. Danh sách Hội viên - HỘI CHIM CHÀO MÀO HÀ NỘI
    By chaomaovietnam in forum Địa Chỉ Và Số Điện Thoại Của Các Thành Viên
    Trả lời: 20
    Bài viết cuối: 08-08-2014, 08:53 AM
  2. Danh sách các loài chim Việt Nam
    By CMVN in forum HỎI ĐÁP - HƯỚNG DẪN - TRẢ LỜI THẮC MẮC
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 30-07-2014, 10:39 PM
  3. Lễ vấn danh có ý nghĩa gì?
    By chaomaovietnam in forum Cưới Hỏi
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 17-01-2013, 11:06 AM
  4. Trả lời: 4
    Bài viết cuối: 28-07-2011, 08:22 PM
  5. Danh sách các thủ lĩnh Lương Sơn Bạc
    By CMVN in forum Tranh - Ảnh - Thư pháp - Trà đạo
    Trả lời: 3
    Bài viết cuối: 23-07-2011, 10:57 PM

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
Múi giờ GMT +7. Bây giờ là 01:18 PM.
Powered by vBulletin® Version 4.2.2
Copyright © 2014 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.
Bản quyền thuộc về Chào Mào Việt Nam - Hotline Sơn Cu 0916108080